ĐANG TẢI DỮ LIỆU...

ĐBSCL: Biến nguy thành cơ để phát triển nông nghiệp 

Hà Hương
Những thay đổi của điều kiện thời tiết, khí hậu, những đòi hỏi khắt khe của thị trường cùng những bước chuyển của xã hội… đang đặt ra những yêu cầu cấp bách, cần có sự chuyển đổi phù hợp để nông nghiệp Đồng bằng thích ứng và tiếp tục phát triển. Vậy nông nghiệp ĐBSCL cần làm gì để biến nguy thành cơ? 
Không chỉ bất thường ở con nước mùa lũ, biến đổi khí hậu còn khiến người dân lao đao khi tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đang từng ngày từng giờ bủa vây ĐBSCL (Ảnh: thanhnien)
Không chỉ bất thường ở con nước mùa lũ, biến đổi khí hậu còn khiến người dân lao đao khi tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đang từng ngày từng giờ bủa vây ĐBSCL (Ảnh: thanhnien)

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

ĐBSCL là vùng đất có thế mạnh về nông nghiệp. Những số liệu thống kê cho thấy, trong nhiều năm qua, mặc dù có những thuận lợi và khó khăn nhất định nhưng ngành nông nghiệp của Vùng luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, cụ thể đạt trên 3%/năm trong giai đoạn 2016-2018, đóng góp 34,6% GDP toàn ngành nông nghiệp cả nước và 33,5% GDP chung Vùng. Năm 2018, khu vực này tiếp tục đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, tôm, cá tra và trái cây, với kim ngạch xuất khẩu đạt 8,34 tỷ USD.

Tuy nhiên, những thay đổi của điều kiện thời tiết, khí hậu, những đòi hỏi khắt khe của thị trường cùng những bước chuyển của xã hội… đang đặt ra những yêu cầu cấp bách, cần có sự chuyển đổi phù hợp để nông nghiệp Đồng bằng thích ứng và tiếp tục phát triển. Vậy nông nghiệp ĐBSCL cần làm gì để biến nguy thành cơ? 

Thấp thỏm chờ con nước

Nằm ở hạ nguồn, mỗi năm ĐBSCL đón một lượng lớn tài nguyên quý giá từ sông mẹ Mekong, đó là tôm cá, là phù sa mỗi khi lũ về. Tuy nhiên, những năm gần đây, mùa lũ đã không còn về đúng hẹn với người dân đồng bằng, kéo theo đó lượng phù sa và tôm cá về đồng ruộng cũng hạn chế. Nếu mọi năm, vào khoảng tháng 7 âm lịch, các hoạt động mưu sinh mùa nước nổi đã bắt đầu nhộn nhịp thì năm 2019 vừa rồi, đến tận tháng 8 âm lịch lại mà con nước vẫn chưa về đồng, người dân thấp thỏm, âu lo chờ con nước. Lũ về muộn, nước ít cũng đồng nghĩa với mọi sinh kế của bà con trở nên khó khăn hơn. 

Ông Nguyễn Văn Dân: "Hồi trước Campuchia họ đặt nhiều, dân đặt nhiều vì nước lớn; ảnh hưởng bởi con nước, nước nhỏ như thế này bà con người ta đi kiếm việc khác làm rồi. Tôi thì năm nào cũng duy trì, bởi tôi không có đi làm ở Bình Dương được, còn người khác đi làm được nên người ta đổi nghề hết rồi. Ngày trước nhận làm lợp cho Campuchia là công có sẵn, khi đó người dân chưa có đi Bình Dương; Còn bây giờ người ta đi hết rồi chỉ còn lại mấy ông già thôi".

Ông Nguyễn Văn Tòng: "Hiện nay, ở Campuchia mà còn không có nước mà. Cảnh không có nước là buồn nắm; buồn vì dân đi hết rồi, nhà không ai giữ hết; Có nhà đi hết luôn, có nhà thì chỉ còn 1-2 người à. Ngày trước có tổ chức đám cưới, một nhà đi 2-3 người; lúc đó mà mời 3 chục mâm thì bây giờ sụt xuống, vì bây giờ nhà đi có một người, có khi người ta không đến luôn vì phải đi làm, người ta đi Bình Dương hết rồi".

Không chỉ bất thường ở con nước mùa lũ, biến đổi khí hậu còn khiến người dân lao đao khi tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn đang từng ngày từng giờ bủa vây ĐBSCL. Hạn, mặn năm nay xuất hiện sớm và gay gắt, không theo quy luật, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mà còn gây hại cho hàng chục ngàn ha sản xuất nông nghiệp nơi đây.

Trước tình hình này, nhiều địa phương đã phải ban bố tình huống khẩn cấp kèm theo đó là những giải pháp cấp bách nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại. Xâm nhập mặn làm thiệt hại khoảng gần 39.000 ha diện tích sản xuất lúa; có khoảng 95.600 hộ dân đang gặp khó khăn về nguồn nước sinh hoạt.

Gia đình bà Phan Thị Sám- ấp Nhựt Hòa, xã Nhựt Ninh, Tân Trụ, Long An, có 5 công lúa, mỗi năm thu lãi về cũng được khoảng 30 - 40 triệu đồng. Năm nay, xâm nhập mặn đến sớm hơn 1 tháng, đợt mưa lại kết thúc sớm nên dù đã đóng cống nhưng lượng nước vẫn không đủ để bơm nên hầu hết các cánh đồng đều khô trắng, lúa cháy hết gốc.

Bà Sám cho biết:"Khô cằn hết rồi, đâu còn gì đâu. Không còn chân nước nên mình dù bơm cả trăm khối đều rút hết. Nếu đồng loạt cả cánh đồng đều bơm, đều có lượng nước dưới chân thì mới được. Còn giờ nếu một hộ bơm mà bao nhiêu hộ khác không bơm được thì cũng như không thôi".

Chưa năm nào ngành nông nghiệp phải chịu nhiều thiệt hại do dịch bệnh và ảnh hưởng thời tiết lớn như năm nay
Chưa năm nào ngành nông nghiệp phải chịu nhiều thiệt hại do dịch bệnh và ảnh hưởng thời tiết lớn như năm nay

Cơ giới hoá phải sang giai đoạn mới

Những con số thống kê thời gian qua đã cho thấy rõ ngành nông nghiệp đang chịu những tác động rất lớn từ thiên tai. Đó là chưa kể câu chuyện “được mùa –rớt giá” hay giải cứu nông sản lại như một điệp khúc lặp đi lặp lại. Nguyên nhân được các chuyên gia chỉ ra cốt yếu nằm ở tư duy sản xuất theo lối mòn của bà con từ xưa đến nay; nhiều diện tích sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ trong sản xuất và tiêu thụ.

Trăn trở về vấn đề này, ông Trần Công Thắng- Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn từng nhận định, ngoài khía cạnh biến động thị trường, an ninh nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong thì hạ tầng chưa được đầu tư tương xứng, kết nối về mặt công nghiệp, nông nghiệp còn yếu; đầu tư của tư nhân thấp… cũng là những hạn chế của nông nghiệp vùng châu thổ.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), hiện cơ giới hóa canh tác lúa tại ĐBSCL ở khâu làm đất cơ bản đạt 100%, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 82% và gần 80% khối lượng lúa sấy, từ đó đảm bảo tốt chất lượng sản phẩm và giảm thất thoát sau thu hoạch. Thế nhưng, khâu gieo cấy lúa bằng cơ giới hóa đạt tỷ lệ rất thấp, nhất là việc sử dụng máy cấy. Toàn vùng chỉ có khoảng 400 máy cấy, chiếm gần 2% cả nước.

Cũng theo các chuyên gia, sở dĩ việc thúc đẩy cơ giới hóa, ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL còn gặp nhiều khó khăn là do các chuỗi giá trị nông sản chưa hình thành, chuỗi liên kết còn chưa chặt chẽ với các nhà phân phối, thị trường tiêu thụ quốc tế; đất sản xuất còn phân bổ manh mún. Trong khi đó quá trình tích tụ, tập trung đất nông nghiệp diễn ra chậm, chưa đồng bộ về thủ tục pháp lý.

Có thể nói cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp giờ đây cần phải bước sang một giai đoạn mới, không chỉ dừng lại ở mức ứng dụng mà phải được triển khai đồng bộ, hoàn thiện ở các khâu nhằm góp  phần giảm chi phí, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Tại Hội nghị trực tuyến tổng kết nhiệm vụ năm 2019, triển khai nhiệm vụ năm 2020 do Bộ NN&PTNT tổ chức, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ: "Ngành nông nghiệp phải tiếp tục tập trung cơ cấu lại, coi phát triển nông nghiệp hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, tăng cường khâu chế biến, bảo quản nông sản, sản xuất theo tín hiệu và yêu cầu của thị trường, mở rộng phát triển thị trường là những khâu đột phá của ngành trong năm 2020 và những năm tiếp theo. Nhưng cũng tái cơ cấu nông nghiệp như một số địa phương đã thành công, nhiều tỉnh vẫn là con trâu cái cày theo sau. Việc thứ hai là giữ chất lượng và chữ tín trong sản phẩm nông nghiệp. Ví dụ như lúa gạo Sóc Trăng ST, trái cây, tôm sạch và đặc biệt là mở rộng thị trường, nhất là thị trường, nhất là thị trường EU 28 nước".

Tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc về thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 mới đây, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh: Chưa năm nào ngành nông nghiệp phải chịu nhiều thiệt hại do dịch bệnh và ảnh hưởng thời tiết lớn như năm nay. Ngành nông nghiệp đang đứng trước 3 vấn đề lớn:

Cần có các biện pháp thúc đẩy sản xuất, khắc phục khó khăn, cung ứng đủ lương thực theo nhu cầu của Nhân dân; Tập trung các biện pháp ứng phó hạn mặn, dịch bệnh, cả dịch tả heo châu Phi; Chuẩn bị điều kiện tốt nhất ngay khi dứt dịch bệnh, tạo đà thúc đẩy phát triển kinh tế ngay. “Khó khăn “kép” nhưng ngành phấn đấu hoàn thành mục tiêu “kép” là xuất khẩu và an sinh, đảm bảo môi trường bền vững.

Để đảm bảo mục tiêu đó, các đơn vị, ngành hàng phải nhận diện rõ nguy cơ, thách thức để có các giải pháp cụ thể, tập trung chỉ đạo đồng bộ từ Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Chỉ cần một thành tố không hoàn thành thì sẽ khó hoàn thành mục tiêu. 

ĐBSCL – vựa lúa lớn nhất của cả nước đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, tồn tại. Người nông dân vốn đã vất vả nay lại càng lao đao khi điều kiện tự nhiên đã có những bất lợi.

Tuy nhiên, nếu xét ở một góc độ khác, ngành nông nghiệp ĐBSCL hoàn toàn có khả năng biến thách thức thành cơ hội theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững ĐBSCL mà theo các chuyên gia quá trình này được xem là cuộc “đại phẫu” của nông nghiệp Đồng bằng. Tiếp tục bàn luận về vấn đề này, mời quý thính giả cùng đến với bài bình luận của PV Hà Hương: “ĐBSCL biến nguy thành cơ để phát triển nông nghiệp”.

Quan tâm việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng

ĐBSCL được xác định là một trong những đồng bằng chịu tác động mạnh mẽ nhất từ biến đổi khí hậu toàn cầu; Có những vùng lõi trước đây chưa hề chịu ảnh hưởng từ hạn, mặn thì nay nước mặn đã bắt đầu xâm nhập vào các nhánh sông, thậm chí có những địa phương mặn lấn sâu vào nội đồng khiến nhiều diện tích hoa màu mất trắng.

Lũ đã không về để bồi đắp phù sa, nay đến mùa hạn, mặn lại làm đồng ruộng xác xơ, cá trên sông cũng không tài nào sống sót. Có lẽ không cần phải chờ đợi thêm điều gì nữa, chúng ta cần phải có những hướng giải pháp căn cơ và lâu dài để nông nghiệp đồng bằng thực sự có một sắc diện mới trong đó chính bà con nông dân phải hiểu được tính cấp thiết và phải chấp nhận đổi mới.

Nếu trước đây, cây lúa giữ vai trò chủ đạo trong nông nghiệp, bà con nông dân luôn tận dụng thế mạnh đất phù sa để canh tác nhiều vụ lúa trong năm thì nay khi đã thấy rõ những điều kiện thuận lợi và bất lợi ở từng mùa vụ, chúng ta hoàn toàn có thể cắt giảm để chú trọng vào chất lượng thay vì số lượng.

Bằng chứng là hiện nay nhiều địa phương đã triển khai thực hiện và đã cho ra những vụ mùa đảm bảo năng suất, chất lương hạt gạo cao đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng nội địa và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc liên kết, hình thành những cánh đồng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh cơ giới hóa, sử dụng phân thuốc một cách khoa học giúp giảm giá thành và mang lại giá trị kinh tế cao.

Không chỉ thay đổi về quy mô, diện tích hay dịch chuyển mùa vụ mà chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng là điều bà con nông dân cần quan tâm và thích nghi lúc này. Ở những vùng thường xuyên chịu tác động của hạn, mặn, bà con có thể tìm hiểu về những giống cây ngắn ngày hoặc có khả năng chịu được phèn, mặn để thay thế cho những vụ lúa.

Chẳng hạn như ở huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, bà con nơi đây cũng đã chủ động chuyển sang trồng sen lấy gương để thay thế cho vụ lúa Hè Thu không đạt năng suất. Bà con cho biết chi phí đầu tư thấp, không cần tốn nhiều công chăm sóc, thời gian thu hoạch liên tục khoảng 3 tháng, gia thị trường lại ổn định… Như vậy, rõ ràng với những ưu điểm nêu trên, sen mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn vụ lúa Hè thu trước đây của bà con.

Ngành nông nghiệp ĐBSCL nếu xét ở một góc độ tích cực thì vẫn còn nhiều tiềm năng có thể khai thác chứ không hoàn toàn mang màu sắc ảm đảm như những tác động tiêu cực mà biến đổi khí hậu đã gây ra cho nơi này. Thay vì chỉ chú trọng vào nước mặn, thì giờ đây hãy tiếp tục đầu tư khai thác hiệu quả hơn nguồn tài nguyên nước mặn, lợ. Nếu trước đây, sản xuất lúa gạo giữ vai trò chủ đạo thì tại sao không nghĩ đến việc “xoay trục” về hướng nuôi trồng thủy sản.

Dựa vào điều kiện tự nhiên và năng lực sản xuất của từng vùng chúng ta không khó để đẩy mạnh việc quy hoạch thành các vùng chuyên canh ngọt, ngọt – lợ hay vùng mặn ven biển. Để vượt qua những thách thức, ĐBSCL cần huy động mọi nguồn lực, chung tay biến nguy thành cơ, tiến tới ổn định và phát triển nông nghiệp an toàn, bền vững. 
 

Bình luận

Đi lại

Đô thị

Giải trí

Kinh doanh