ĐANG TẢI DỮ LIỆU...

Báo động tình trạng phát thải khí nhà kính tại các đô thị 

VOVGT - Tăng trưởng đô thị thiếu kiểm soát, sử dụng nhiều năng lượng đầu vào đã khiến nhiều đô thị phải đối mặt với tình trạng lượng khí phát thải cao.

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

Ảnh minh họa

Đánh giá của Liên hợp quốc cho thấy, đô thị là khu vực phát thải khí nhà kính lớn nhất của mỗi quốc gia. Trên thế giới, đô thị đóng góp trên 70% GDP quốc gia nhưng cũng là nơi phát thải trên 70% khí nhà kính. Hiện nay, xu hướng đô thị hóa ngày càng tăng, số lượng dân cư sống và tập trung tại các đô thị ngày càng nhiều, đồng nghĩa với lượng khí phát thải, rác thải ra môi trường cũng tăng theo. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này nên các đô thị cũng đang phải đối mặt với những tác động, ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa thiếu kiểm soát.

TS Nguyễn Tùng Lâm- Giám đốc Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường cho biết:

“Khi mà đô thị hóa cao như thế, với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các KĐT sẽ tăng cao, đặc biệt các nhu cầu về giao thông, năng lượng và các nhu cầu về tiêu dùng của người dân dẫn đến nhu cầu về năng lượng rất cao, đồng nghĩa với việc khí phát thải nhà kính của các lĩnh vực này sẽ tăng cao, gây áp lực lên đô thị.”

Theo báo cáo Triển vọng đô thị hóa toàn cầu năm 2011 của Liên hợp quốc, dân số đô thị của Việt Nam sẽ tăng trên 1.200% trong giai đoạn từ năm 1950 đến năm 2030. Quá trình đô thị hóa thiếu kiểm soát khiến cho các đô thị tại Việt Nam phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, nhu cầu sử dụng năng lượng không hiệu quả và thiếu nhà ở trầm trọng. Việt Nam cũng trở thành một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu khi đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam sẽ tăng 3 độ C, mực nước biển sẽ dâng cao khoảng 1 mét, khiến cho khoảng 5% diện tích đất sẽ bị ngập hoàn toàn.

TS Nguyễn Quang- Giám đốc chương trình Định cư con người Liên hợp quốc phân tích:

“Chúng ta là một nước trong quá trình đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa 35%. Khu vực đô thị hiện nay có thể đóng góp từ 60-70% GDP của quốc gia song chính khu vực đô thị lại là nơi dễ bị tổn thương chịu tác động rất lớn của sự thay đổi kết cấu hạ tầng. Đặc biệt, rất nhiều ngươi nghèo đi vào khu vực đô thị do nhiều thành phố của chúng ta ở ven biển nên chịu ảnh hưởng của nước biển dâng rồi bão lũ, nhiễm mặn.”

Để hạn chế những tác động, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, theo các chuyên gia, ngoài việc giảm lượng rác thải, chất thải rắn, khí thải của các ngành năng lượng, lâm nghiệp, nông nghiệp, theo các chuyên gia môi trường, Chính phủ và Nhà nước cũng cần quan tâm đến những chương trình, chính sách giảm khí phát thải tại chính các đô thị để đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

Hiện nay, tại nhiều đô thị của Việt Nam cũng đã thực hiện các mục tiêu trên thông qua việc phát triển hệ thống giao thông công cộng, đưa vào vận hành hệ thống xe buýt nhanh nhằm hạn chế lượng khí phát thải của phương tiện cá nhân, từng bước thay thế và chuyển đổi sử dụng xăng sinh học. Tại một số đô thị cũng đã xây dựng những mô hình thành phố sinh thái, xanh và thông minh khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng điện, gió,… áp dụng các biện pháp xử lí rác thải, giảm rác thải, biến rác thành năng lượng, thành của cải xã hội.

Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu giảm lượng khí phát thải 8% vào năm 2021 như Việt Nam đã cam kết, các chuyên gia cho rằng, chính quyền các đô thị cần phải thực hiện đồng bộ thêm nhiều biện pháp để khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi doanh nghiệp và cá nhân cùng thực hiện mục tiêu này. Một số ý kiến đề xuất:

“Trong cơ chế thị trường để khuyến khích các DN, cộng đồng thay đổi công nghệ, giảm năng lượng đầu vào , giảm phát thải cũng rất quan trọng, cần phải áp dụng những công cụ của thị trường chứ không phải là những công cụ hành chính. Tức là dùng công cụ thị trường để hướng các DN đi theo mục tiêu mới giảm lượng phát thải hoặc áp dụng những công nghệ để xử lí rác thải, xử lí nước, sử dụng nguồn năng lượng mặt trời, phát triển GTCC,…"

“Những khu vực có khả năng phát thải lớn như khu vực đô thị cần phải có những chính sách cụ thể, để thấy đâu là ưu tiên về mặt chính sách, đâu là ưu tiên về các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, đổi mới công nghệ, thân thiện với biến đổi khí hậu , cân bằng giữa phát triển kinh tế với khả năng phát thải của khu vực này.”

Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) là Cam kết của mỗi quốc gia thành viên Công ước khung liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, về việc quốc gia làm được gì để giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao sức chống chịu trước tác động của Biến đối khí hậu. Đề cập tới những thách thức của Việt Nam trong việc thực hiện Đóng góp quốc gia tự quyết định (NDC) và những giải pháp để thực hiện, phóng viên kênh VOVGT Quốc gia đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Văn Tấn- Phó Cục trưởng Cục khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài Nguyên môi trường. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

Phóng viên: Thưa ông, Việt Nam tham gia vào Đóng góp quốc gia tự quyết định vào tháng 11/2016, trong đó đưa ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam cam kết giảm 8% lượng khí phát thải nhà kính. Ông đánh giá thế nào về những thách thức của Việt Nam trong quá trình thực hiện cam kết này?

Ông Phạm Văn Tấn: “Nói một cách đơn giản, Đóng góp quốc gia tự quyết định trước hết là đóng góp của quốc gia. Điều kiện ở đây phụ thuộc vào hoàn cảnh của quốc gia. Tức là đóng góp toàn thể của quốc gia. Đóng góp của quốc gia không có nghĩa là đóng góp của chính phủ mà của anh, của tôi, của tất cả mọi người. 

Việc chúng ta đưa ra vấn đề Đóng góp quốc gia tự quyết định là định hướng đóng góp mang tính chất bắt buộc từ năm 2021 trở đi. Hiện nay, cũng như từ khi Việt Nam tham gia Khung LHQ về biến đổi khí hậu từ năm 1992, cho đến năm 2020 chúng ta vẫn thực hiện theo hình thức tự nguyện vì ưu tiên phát triển bền vững của Việt Nam, về ưu tiên đóng góp bao nhiêu cho giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu cũng như là việc tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, đấy là do Việt Nam tự quyết định. Chuyển từ đóng góp tự nguyện sang đóng góp mang tính chất bắt buộc thì buộc chúng ta phải có những quy định rất cụ thể.

Hiện nay Bộ Tài nguyên môi trường mới xây dựng văn bản đầu tiên trình Chính phủ về lộ trình Việt Nam tham gia giảm khí phát thải nhà kính. Vì đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định ai đóng góp, đóng góp như thế nào, quy trình ra làm sao, ai giám sát…nhưng về lâu dài, nó là Nghị định của Chính phủ nên chỉ áp dụng cho các cơ quan mang tính chất của Chính phủ . Song đây là đóng góp của quốc gia, của mọi người nên chắc chắn thời gian tới phải nghĩ tới văn bản pháp lý cao hơn Nghị định và từ nay đến năm 2020 hành lang pháp lý của Việt Nam phải hoàn thành.”

Phóng viên: Để thực hiện những cam kết đã đề ra, trong thời gian tới, chúng ta cần phải thực hiện những giải pháp nào, thưa ông?

Phạm Văn Tấn: “Thứ nhất là tuyên truyền nâng cao nhận thức của mọi người rằng biến đổi khí hậu do con người gây ra và con người có thể thực hiện những biện pháp bằng những hành động của mỗi người để giảm khí phát thải.

Thứ hai về mặt chính sách, chúng ta phải có những chính sách khuyến khích để tạo ra những hành lang pháp lý để huy động nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào lĩnh vực này vì hiện nay nguồn lực nhà nước cũng rất có hạn. Và phát thải khí nhà kính chủ yếu là sự thay đổi công nghệ, các doanh nghiệp và các đơn vị tư nhân không thể đứng ngoài được.

Ngoài ra chúng ta cũng cần có những chính sách ưu tiên vào những mảng mà chúng ta muốn giảm nhẹ lượng phát thải khí nhà kính.”

 

Thời tiết các vùng
TP. Hà Nội
29,2°С
TP. Hồ Chí Minh
36,1°С
TP. Hạ Long
26,2°С
Nha Trang
29,4°С
Vũng Tàu
32,1°С

Đi lại

Đô thị

Giải trí

Kinh doanh

Diễn đàn