Hà Nội bị “nhốt” trong đê 767 năm
Hơn 1.000 năm trước, khi vua Lý Công Uẩn chọn sông Hồng làm “mặt tiền” cho kinh đô Thăng Long, dòng sông ấy không chỉ mang phù sa mà còn mang theo sinh khí của một đô thị đang mở ra.
Your browser does not support the playback of this video. Please try using a different browser.
Khi phố phường ngày càng chật chội, vỉa hè và lòng đường bị bào mòn bởi những điểm đỗ, thì việc Thành phố phê duyệt bãi đỗ xe ngầm đầu tiên không chỉ là thêm một công trình, mà còn là phép thử quan trọng cho tư duy giải quyết “nút thắt” giao thông tĩnh bằng chiều sâu không gian.
Ở phố cổ nói riêng và khu vực trung tâm Hà Nội nói chung, chỗ đỗ xe là một thứ “tài nguyên” khan hiếm đến mức có thể đo đếm bằng từng mét vuông. Khi mỗi chiếc ô tô tìm chỗ đỗ đều trở thành một cuộc “thương lượng” với vỉa hè, lòng đường và cả không gian công cộng, thì đô thị không chỉ bị “bóp nghẹt” về vật lý, mà còn bị tổn thương về trật tự và mỹ quan.
Do đó, thay vì tiếp tục “chắp vá” trên mặt đất, khai thác không gian ngầm là một cách tiếp cận căn cơ để giải phóng không gian. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn bãi đỗ xe ngầm như một chiếc “hộp” chứa thêm vài trăm ô tô, thì kỳ vọng có thể nhanh chóng biến thành sự hụt hẫng.
Bởi giao thông tĩnh không chỉ là bài toán cộng trừ đơn giản giữa số xe và chỗ đỗ, mà nó là vấn đề tổ chức không gian, điều tiết hành vi, và sự kết nối giữa các chính sách giao thông.
Một bãi xe ngầm, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể phát huy hiệu quả nếu xung quanh nó vẫn là môi trường giao thông thiếu kỷ cương và thiếu định hướng. Điều quan trọng trước hết nằm ở cách tổ chức vận hành.
Bãi đỗ xe ngầm chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm việc siết chặt quản lý đỗ xe trên mặt đất. Khi người dân vẫn có thể dễ dàng đỗ xe ngay trước cửa nhà, dưới lòng đường hay trên vỉa hè với chi phí thấp và rủi ro không đáng kể, thì động lực để họ đưa xe xuống hầm gần như không có.
Song song đó là bài toán tổ chức luồng ra vào. Nhiều khu vực trung tâm có mặt cắt đường hẹp, mật độ giao thông cao và nhịp sinh hoạt dày đặc.
Nếu việc tiếp cận bãi đỗ xe không được tính toán kỹ thì rất dễ xảy ra tình trạng giải quyết được chỗ đỗ ở điểm này, nhưng lại phát sinh xung đột ở các điểm khác xung quanh. Vì vậy, cần một kịch bản điều tiết chi tiết, từ phân luồng, giờ cao điểm, đến kết nối với các tuyến phố lân cận.
Một khía cạnh khác không thể xem nhẹ là mối quan hệ giữa công trình ngầm và không gian công cộng phía trên. Phố cổ, công viên hay những nơi khác xây bãi xe ngầm trong tương lai là không gian văn hóa, du lịch và sinh hoạt cộng đồng.
Vì vậy, xiệc xây dựng cần được thực hiện với tinh thần tôn trọng cảnh quan, cây xanh và nhịp sống hiện hữu: vỉa hè thông thoáng, vườn hoa dễ tiếp cận; chỗ nghỉ ngơi, vui chơi cho mọi đối tượng, từ người già đến trẻ nhỏ; hay không gian dạo bộ cho du khách;…
Ở góc độ nguồn lực, muốn bãi đỗ xe ngầm không chỉ dừng ở vài dự án đơn lẻ, thì Thành phố cần coi đây là lĩnh vực hạ tầng đặc thù và có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút khu vực tư nhân.
Các cơ chế về ưu đãi thuế, tiền thuê đất ngầm, phí sử dụng hạ tầng, thời hạn khai thác, thậm chí khung giá vé linh hoạt theo khu vực và thời điểm,… cần được thiết kế rõ ràng, ổn định và có tính dự báo dài hạn, để nhà đầu tư nhìn thấy tiềm năng và tham gia, thay vì trông chờ vào ngân sách công vốn đã rất hạn hẹp.
Xa hơn, bãi đỗ xe ngầm nên được nhìn như một mắt xích trong chiến lược dài hạn về giao thông đô thị. Nó cần kết nối với giao thông công cộng, các tuyến đi bộ, xe đạp và các giải pháp giảm phương tiện cá nhân vào khu vực trung tâm. Khi người dân có thể gửi xe thuận tiện rồi tiếp tục di chuyển bằng những phương thức thân thiện hơn, thì giao thông tĩnh mới thực sự góp phần “làm mềm” giao thông động.
Không kém phần quan trọng là yếu tố minh bạch và đồng thuận xã hội. Với những dự án tác động trực tiếp đến đời sống dân cư, thì việc thông tin rõ ràng về tiến độ, phương án thi công và các biện pháp giảm ảnh hưởng là điều bắt buộc, tránh tâm lý nghi ngờ hoặc phản ứng tiêu cực có thể phát sinh.
Nhìn rộng hơn, việc đào xuống lòng đất không nên là giải pháp tình thế, mà cần trở thành một lựa chọn chiến lược có chọn lọc. Không phải mọi không gian đều có thể và nên xây dựng ngầm, nhưng ở những khu vực đã chạm ngưỡng chịu tải, như phố cổ, thì đó gần như là lựa chọn tất yếu nếu muốn bảo vệ những gì còn lại trên mặt đất.
Suy cho cùng, bãi đỗ xe ngầm không phải là câu chuyện của vài trăm chỗ đỗ, mà là phép thử cho cách Hà Nội ứng xử với không gian hữu hạn của mình. Khi mặt đất không còn bị xe cộ chiếm giữ, thì Thành phố có cơ hội trả lại vỉa hè cho người đi bộ, trả lại khoảng xanh và nhịp sống cho cộng đồng.
Nếu được triển khai thận trọng, quản lý nghiêm túc và đặt trong một chiến lược tổng thể, thì bãi xe ngầm phố cổ có thể trở thành một bước ngoặt để sắp xếp lại trật tự không gian đô thị, và giải bài toán giao thông tĩnh mà nhiều năm nay Thủ đô chưa thể tìm được “đáp số”.
Hơn 1.000 năm trước, khi vua Lý Công Uẩn chọn sông Hồng làm “mặt tiền” cho kinh đô Thăng Long, dòng sông ấy không chỉ mang phù sa mà còn mang theo sinh khí của một đô thị đang mở ra.
Liên quan đến vụ việc khách đi taxi bất ngờ tấn công tài xế, được đăng tải trên mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng, cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk đã vào cuộc điều tra, xác minh và triệu tập người liên quan để làm việc.
Trong dịp Tết Dương lịch 2026, lực lượng CSGT CATP Hà Nội đã duy trì quân số, tổ chức nhiều chốt kiểm tra nồng độ cồn trên các tuyến, địa bàn trọng điểm, làm việc xuyên kỳ nghỉ lễ với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, nhằm bảo đảm TTATGT và giữ bình yên cho người dân Thủ đô.
Trong ngày 3/01/2026, toàn quốc xảy ra 35 vụ tai nạn giao thông, làm chết 16 người, bị thương 27 người.
Giữa lòng Thủ đô mùa cuối năm, khi phố phường khoác lên mình sắc tĩnh lặng đặc trưng, du lịch Hà Nội lại vừa chào đón một hành trình mới mẻ – một cách kể chuyện Hà Nội bằng cảm xúc, ký ức và trải nghiệm.
Mỗi năm, dân số Hà Nội tăng thêm khoảng 200.000 - 300.000 người, số lượng ô tô cá nhân cũng tăng tới gần 10%. Trong khi đó, diện tích đất dành cho giao thông chỉ nhích lên khoảng 0,3%, còn giao thông tĩnh chiếm chưa tới 1% quỹ đất đô thị.
Hệ thống hơn 120 bến phao và 28 khu neo đậu chuyển tải đang khai thác trên cả nước đã và đang phát huy vai trò quan trọng, góp phần giảm áp lực quá tải cầu bến, rút ngắn thời gian lưu tàu và nâng cao hiệu quả khai thác cảng.