Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 71/193 quốc gia trong bảng xếp hạng Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc (công bố tháng 9/2024), tăng 15 bậc so với 2022. Kinh tế số phát triển nhanh, chiếm tỷ lệ quan trọng trên GDP của cả nước. Bên cạnh đó, việc chuyển đổi số cũng giúp tăng hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, các hoạt động của doanh nghiệp.
Từ năm 2014, ngành hải quan đã đưa vào vận hành Hệ thống VNACCS/VCIS - hệ thống thông quan tự động trên cả nước. Hệ thống này phục vụ cho gần 100% doanh nghiệp xuất nhập khẩu, xử lý 99% tờ khai xuất nhập khẩu.
Ngoài ra, ngành hải quan kết nối 250 thủ tục hành chính của 13 bộ, ngành lên Hệ thống một cửa quốc gia và có hơn một nửa trong tổng số 225 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực hải quan được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến.
Theo chị Nguyễn Hồng Hạnh, nhân viên xuất nhập khẩu một doanh nghiệp may mặc, quá trình chuyển đối số này đã giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn rất nhiều: "Theo tôi, sử dụng công nghệ số này, công việc thuận lợi hơn, người dân không phải trực tiếp đến các cơ quan và không phải mất các chi phí đi lại và thời gian chờ đợi xếp hàng như trước kia. Mọi thủ tục nhanh chóng hơn và thuận lợi hơn trước kia rất nhiều. Tuy nhiên vẫn gặp những bất cập khi hệ thống bị lỗi"
Chuyển đổi số là xu hướng chung của thế giới và là xu hướng tất yếu cho phát triển kinh tế. Không chỉ lĩnh vực hải quan mà nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế đều đã có những bước chuyển mình khi ứng dụng số, đặc biệt là các ngành y tế, ngân hàng và giáo dục. Chuyên gia tài chính TS. Nguyễn Trí Hiếu phân tích: "Trong 10 năm vừa qua, chuyển đổi số đã đóng góp rất nhiều vào lĩnh vực kinh tế, từ việc tự động hoá cho đến việc giảm chi phí cho các hoạt động kinh tế. Chuyển đổi số là sử dụng AI, trí tuệ nhân tạo và tự động hoá các quy trình mà trước đây con người phải can thiệp một cách toàn diện, đóng góp rất nhiều cho việc giảm chi phí và trong việc tạo ra thành phẩm. Chuyển đổi số diễn ra từ quá trình đi tìm nguyên vật liệu, sản xuất ra thành phẩm tới khâu bán hàng"
Số liệu thống kê cho thấy, chỉ tính riêng lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam năm 2024 đã đạt doanh thu 25 tỷ USD, thuộc top 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử hàng đầu thế giới. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng thanh toán không dùng tiền mặt hàng năm tăng hơn 50%, dẫn đầu Đông Nam Á.
Kinh tế số có tốc độ tăng trưởng nhanh, hơn 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP, nhanh nhất Đông Nam Á. Tỷ trọng kinh tế số năm 2024 ước đạt 18,3% GDP.
Đáng chú ý, hệ sinh thái định danh số VNeID đã được phát triển và mở rộng nhanh, theo báo cáo từ cơ quan quản lý, đến giữa 2025 đã cấp hơn 60 triệu tài khoản định danh số cho công dân, vượt mục tiêu 40 triệu tài khoản người dùng trong Đề án 06/CP với mức truy cập ứng dụng hàng ngày đạt vài triệu lượt, giúp rút ngắn thời gian giao dịch và tăng tỉ lệ xác thực trực tuyến cho dịch vụ công.
Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa, Ủy viên Ủy ban pháp luật của Quốc hội đánh giá cao những nỗ lực của các bộ, ngành trung ương và địa phương trong chuyển đổi số, giúp nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước: "Hiện nay đã có 54/76 Bộ ngành đã ứng dụng, áp dụng công nghệ số theo Đề án 06 hiện nay rất trơn tru, rất tốt. Theo tôi đánh giá, tham khảo rồi lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp người ta rất hài lòng, các bộ ngành của trung ương, cũng như là chính quyền các cấp ứng dụng công nghệ số này trong quản lý nhà nước, áp dụng trong thủ tục hành chính, đặc biệt trong các trung tâm hành chính công của cơ sở, trung ương đều ứng dụng dữ liệu này. Ngoài ra trong quản lý nhà nước, trong giao dịch với nhau giữa các cơ quan đều ứng dụng công nghệ này rất nhanh chóng."
Số liệu thống kê cho thấy, hiện nay, tỉ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình của cả nước đạt 45%, tăng 2,5 lần so với năm 2023. Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp tục phát huy hiệu quả với 4.475 thủ tục được tích hợp, chiếm 70,8% tổng số thủ tục hành chính.
Điều quan trọng của quá trình chuyển đổi số là tích hợp và chia sẻ dữ liệu dùng chung giữa các bộ ngành, địa phương, qua đó tăng số lượng giao dịch dữ liệu qua nền tảng tích hợp lên trên 1 nghìn giao dịch trong năm 2024, tăng 57% so với năm 2023.
Ông Vũ Hoàng Liên, Chủ tịch Hội Internet Việt Nam nhận định: "Hệ sinh thái định danh số VNeID không đơn thuần là số lượng người dùng định danh mà là hiệu quả của định danh nền tảng cho chuyển đổi số, khẳng định nguyên tắc tối thiểu của một văn nh số, Trong đó việc chia sẻ dữ liệu và tích hợp dịch vụ. Đồng thời định danh VNeID, các dịch vụ công, các hệ thống quản lý tích hợp dữ liệu, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các dịch vụ công. Việc này giúp rút ngắn quy trình, xử lý thủ tục hành chính, giảm thiểu người ta phải thao tác nhiều nơi nhiều chỗ".
Ông Võ Xuân Hoài, Phó giám đốc của Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc Bộ Tài chính cho biết, thời gian vừa qua, Bộ Chính trị, Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng hành lang pháp lý, hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng các công nghệ mới, sáng kiến mới, quy trình, mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo có thể áp dụng sớm ở Việt Nam cũng như đưa vào thực tế triển khai trong cuộc sống, đóng góp vào phát triển kinh tế.
Công nghệ ngày nay không chỉ là một lĩnh vực riêng biệt mà trở thành hạ tầng phát triển cốt lõi của quốc gia. Nhất là trong bối cảnh, Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình thực hiện chuyển đổi số nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Những sản phẩm công nghệ do người Việt, Doanh nghiệp công nghệ Việt thiết kế, sản xuất và xây dựng đã giúp Việt Nam chủ động trong quá trình chuyển đổi và nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế.
Chuyển đổi số bằng công nghệ Make in Việt Nam
Việt Nam hiện thuộc nhóm các quốc gia có tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số/đầu dân cao nhất trong các nước đang phát triển. Tính đến cuối năm 2024, Việt Nam đang có gần 74 nghìn doanh nghiệp công nghệ số, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm 2023, với gần 1,26 triệu lao động hoạt động trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và Truyền thông (ICT)...Tổng doanh thu của các doanh nghiệp công nghệ số đạt gần 158 tỷ USD trong năm 2024.
Đáng chú ý, sau 5 năm thực hiện Make in Viet nam, giá trị Việt Nam trong ngành công nghệ số đã tăng từ 20% lên 32%. Make in Viet Nam là sáng tạo, thiết kế, sản xuất tại Việt Nam và được làm bởi các doanh nghiệp Việt Nam.
Chiến lược Make in Việt Nam giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong hành trình phát triển công nghệ số và chuyển đổi số ở Việt Nam. Nó không chỉ là một khẩu hiệu hành động mà còn là một tinh thần tự cường, tự chủ ứng dụng và làm chủ công nghệ.
Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; trong đó xác định rõ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là động lực chính cho tăng trưởng. Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế số chiếm ít nhất 50% GDP, Việt Nam trở thành trung tâm AI và công nghệ số của khu vực.
Để hiện thực mục tiêu này, thời gian tới, Việt Nam cần tập trung một số giải pháp:
Thứ nhất, Việt Nam cần thúc đẩy phát triển hạ tầng số, đặc biệt ưu tiên đầu tư vào hạ tầng chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), thúc đẩy hệ sinh thái bán dẫn, phát triển 5G/6G, an ninh mạng, điện toán đám mây, công nghệ vũ trụ, không gian.
Chính phủ cần có những chính sách ưu tiên bố trí nguồn lực quốc gia cho các nhiệm vụ khoa học trọng điểm; hình thành các khu công nghệ cao, khu đổi mới sáng tạo tập trung; và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo với sự tham gia sâu rộng của doanh nghiệp và nhà đầu tư mạo hiểm.
Đồng thời có những ưu đãi, khuyến khích các công ty công nghệ trong nước tự sản xuất các sản phẩm công nghệ, do người Việt Nam thực hiện, liên tục đổi mới phát nh ra những công nghệ mới.
Các doanh nghiệp công nghệ số đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi số quốc gia. Khi các doanh nghiệp làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược và công nghệ lõi sẽ tạo ra sự tự chủ về công nghệ, nâng tầm vị thế của doanh nghiệp Việt, sản phẩm công nghệ Việt trên thị trường thế giới công nghệ toàn cầu.
Điều này, không chỉ làm tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghệ của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực mà còn giúp Việt Nam tự chủ trong quá trình chuyển đổi số trong các lĩnh vực.
Đối với lĩnh vực kinh tế số, hiện nay, tỷ lệ chuyển đổi số trong các lĩnh vực đang có sự chênh lệch đáng kể, trong lĩnh vực nông nghiệp mới chỉ chiếm chưa đến 1%. Do vậy, thời gian tới, cần mở rộng ứng dụng công nghệ số đồng đều vào các lĩnh vực
Trong hoạt động sản xuất, cần áp dụng các công nghệ như AI, IoT và Cloud- 3 trụ cột vững chắc giúp doanh nghiệp tối ưu hoá quy trình, nâng cao năng suất và tạo ra những sản phẩm thông nh.
Đồng thời, tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng và nh bạch, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm phát triển.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực cho kinh tế số của Việt Nam còn hạn chế. Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực kinh tế số chỉ chiếm hơn 2% tổng lực lượng lao động của cả nước. Để đáp ứng mục tiêu chuyển đổi số đã đặt ra, thời gian tới Việt Nam cần phải tập trung vào xây dựng nguồn nhân lực số- yếu tố then chốt trong chuyển đổi số.
Bên cạnh, rà soát và hoàn thiện các chiến lược về giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay, Chính phủ cần sớm có điều chỉnh các chính sách hiện hành để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong đào tạo nhân lực số, cân đối cung cầu về nhân lực.
Đồng thời đưa ra những chính sách đột phá về giáo dục cho lĩnh vực này, xây dựng và triển khai những chương trình đào tạo chuyên gia chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin để tạo ra những sản phẩm đột phá cũng như là lực lượng then chốt có khả năng đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn cho lực lượng lao động.
Các cơ sở đào tạo cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đào tạo những nguồn nhân lực có khả năng làm việc thực tế ngay khi ra trường.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có nhiều cơ hội và tiềm năng để phát triển các công nghệ số Make in Viet Nam, song cũng đối mặt với nhiều thách thức. Để có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số thì rất cần sự quyết tâm và chung tay của toàn bộ hệ thống chính trị, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Có như vậy, Việt Nam có thể lọt vào top 3 quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu phát triển công nghệ số trong tương lai.