Hà Nội - 02437919191    TP. Hồ Chí Minh - 02839919191    MekongFM - 02838309090
  • Hà Nội - 02437919191   
  • TP. Hồ Chí Minh - 02839919191   
  • MekongFM - 02838309090   
Thế Giới

Bùng nổ khai thác nickel: Lợi nhuận từ xe điện và cái giá phải trả

Huy Văn: Chủ nhật 17/05/2026, 09:32 (GMT+7)

Nickel là một trong những nguyên liệu quan trọng nhất đối với ngành công nghiệp xe điện. Tuy nhiên, tại Indonesia, quốc gia có sản lượng khai thác nickel đứng đầu thế giới, ngành khai thác kim loại quý này đang để lại nhiều hậu quả về mặt môi trường.

Tham vọng thành trung tâm của chuỗi cung ứng xe điện

Nickel là nguyên liệu có vai trò cực kỳ quan trọng trong ngành công nghiệp xe điện, bởi đây là một trong những vật liệu cốt lõi để sản xuất pin lithium-ion — “trái tim” của xe điện hiện đại. Nickel hiện chiếm một tỷ lệ lớn trong nhiều loại pin xe điện thông dụng ngày nay như pin NMC hay pin NCA. Và nhờ sở hữu trữ lượng nickel lớn nhất thế giới, Indonesia đang trở thành trung tâm của chuỗi cung ứng pin xe điện toàn cầu.

Mỏ khai thác nikcel tại Weda Bay, Bắc Maluku, Indonesia. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Mỏ khai thác nikcel tại Weda Bay, Bắc Maluku, Indonesia. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Theo đài CNA, với tổng diện tích khai thác khoảng 10 nghìn km2, hiện mỗi năm xứ vạn đảo sản xuất khoảng 2,2 triệu tấn nickel tinh luyện. Con số này được dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2050. Hầu hết nickel tại Indonesia sẽ được xuất khẩu sang các quốc gia sản xuất xe điện, mà chủ yếu là Trung Quốc.

Chính phủ Indonesia từ năm 2020 đã cấm xuất khẩu nickel thô với mục đích xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh cho xe điện, từ khai thác và tinh luyện khoáng sản, đến sản xuất vật liệu pin và lắp ráp xe điện. Nhờ đó mà Indonesia đã thu hút hàng tỷ USD từ các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản cho các khu công nghiệp, nhà máy luyện nickel tại đảo Sulawesi hay quần đảo Maluku.

Thậm chí, từ những năm 2000, Trung Quốc đã đầu tư hàng trăm triệu USD cho Indonesia thông qua trợ cấp, miễn thuế và hỗ trợ tài chính trực tiếp - để xây dựng ngành công nghiệp xe điện và đảm bảo kiểm soát các chuỗi cung ứng quan trọng, trong đó bao gồm các khu công nghiệp luyện kim.

Nhờ đó, sản lượng khai thác quặng nickel đã tăng nhanh chóng trong khoảng 1 thập kỷ trở lại đây, từ 7,8 triệu tấn vào năm 2015 lên tới 265 triệu tấn vào năm ngoái. Trước khi đẩy mạnh khai thác, tinh luyện, xuất khẩu nickel của Indonesia chỉ đạt khoảng 1 – 1,3 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, tính đến năm 2023, con số này đã tăng lên tới 33,5 tỷ USD/năm, và hướng tới đạt mốc 50 tỷ USD/năm vào năm 2045.

Đánh đổi môi trường lấy lợi ích

Tuy nhiên, đi kèm với sự phát triển nhanh chóng như vậy là những ảnh hưởng về môi trường. Nhiều ngọn đồi xanh bị “cạo trọc”, nhiều vùng nông thôn, làng chài trở thành các thị trấn công nghiệp, bao quanh bởi những nhà máy. Tại một số nơi như đảo Halmahera, diện tích khu công nghiệp luyện kim Weda Bay hiện chiếm tới 1/7 hòn đảo. Ước tính đã có khoảng 75 nghìn ha rừng đã bị chuyển đổi cho các dự án khai thác nickel tại đảo Sulawesi và quần đảo Maluku.

Hoạt động khai thác nickel còn ảnh hưởng tới hệ sinh thái biển. Theo hãng thông tấn AP, hệ sinh thái biển ở nhóm đảo nhiệt đới thuộc tỉnh Tây Papua, Indonesia, một trong những khu vực biển đa dạng sinh học nhất Trái đất đang bị đe doạ bởi sự mở rộng các dự án khai thác nickel. Diện tích đất sử dụng cho khai thác mỏ tại đây đã tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 2020 – 2024. Theo các chuyên gia môi trường, bùn đất, chất thải từ các hoạt động khai thác đang che phủ các rặng san hô, hoặc cuốn trôi nhiều loại thuỷ sinh, và làm ảnh hưởng chất lượng nước tại đây.

Nivell Rayda, phóng viên cao cấp của đài CNA chia sẻ về tác động của hoạt động khai thác nickel tại Indonesia những năm gần đây:

“Bạn có thể tưởng tượng rằng, cách đây 10 năm, khu vực Weda Bay chỉ là làng chài, không được phát triển nhiều. Thậm chí bạn không thể tìm thấy trạm ATM hay trạm xăng ở đây. Nhưng từ năm 2016, các tập đoàn khai thác bắt đầu tới đây mua đất, xây nhà máy. Kể từ đó, người dân tại đây phải đối mặt với nhiều thứ như khói bụi, lũ lụt trầm trọng hơn do phá rừng, sông ngòi cũng bị ô nhiễm. Điều quan trọng là tất cả những thứ đó xảy ra với một tốc độ nhanh chóng mặt và nhiều người dân tại đây đang chật vật để đối phó với chúng”.

Các nhà máy, khu công nghiệp đã biến nhiều làng chài thành các thị trấn công nghiệp, đối mặt với nhiều tổn hại về môi trường. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Các nhà máy, khu công nghiệp đã biến nhiều làng chài thành các thị trấn công nghiệp, đối mặt với nhiều tổn hại về môi trường. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Dù là quốc gia sản xuất nickel lớn nhất thế giới và là mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng pin xe điện, nhưng nickel luyện tại Indonesia có lượng phát thải carbon cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia khác. Nguyên nhân bởi các nhà máy tại Indonesia vẫn sử dụng điện than.

Báo cáo năm 2023 cho thấy riêng ngành khai thác nickel chiếm 22% tổng phát thải từ lĩnh vực năng lượng và công nghiệp của Indonesia. Còn theo một báo cáo công bố vào tháng 6/2025 bởi Bộ Kế hoạch Phát triển Quốc gia, ước tính mỗi một tấn nickel được sản xuất tại Indonesia sẽ đi kèm với 93 tấn khí thải carbon tương ứng, trong khi mỗi nhà máy tại quốc gia này có thể sản xuất 20 – 60 nghìn tấn nickel mỗi năm.

Phóng viên Nivell Rayda chia sẻ thêm:

“Chúng ta cần rất nhiều năng lượng để luyện hoá nickel từ quặng thô trở thành thành phẩm sử dụng cho pin xe điện. Đáng tiếc là Indonesia đã lựa chọn cách rẻ nhất để làm điều này, đó là sử dụng điện than. Và đó là nguyên nhân khiến hàng triệu tấn khí carbon dioxide được thải ra mỗi năm. Phải tới năm ngoái, chính phủ Indonesia mới quyết định cần phải giảm phát thải ngành công nghiệp này với mục tiêu giảm 81% phát thải vào năm 2045”.

"Xanh hoá" công nghiệp khai thác, liệu có kịp?

Theo lộ trình mới, Indonesia hy vọng sẽ giảm sự phụ thuộc vào than đá cho ngành công nghiệp niken và đặt mục tiêu 61% nhu cầu điện của ngành được cung cấp bởi các nhà máy thủy điện, 30% bởi các trang trại năng lượng mặt trời và 9% bởi năng lượng gió.

Các chuyên gia về môi trường đã ca ngợi những nỗ lực của Indonesia trong việc khử carbon trong ngành công nghiệp niken, nhưng họ cũng lo ngại rằng những biện pháp này có thể là quá ít và quá muộn.

Theo lộ trình mới, Indonesia hy vọng sẽ giảm sự phụ thuộc vào than đá cho ngành công nghiệp niken và đặt mục tiêu 61% nhu cầu điện của ngành được cung cấp bởi các nhà máy thủy điện, 30% bởi các trang trại năng lượng mặt trời và 9% bởi năng lượng gió. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Theo lộ trình mới, Indonesia hy vọng sẽ giảm sự phụ thuộc vào than đá cho ngành công nghiệp niken và đặt mục tiêu 61% nhu cầu điện của ngành được cung cấp bởi các nhà máy thủy điện, 30% bởi các trang trại năng lượng mặt trời và 9% bởi năng lượng gió. Ảnh: CNA/Wisnu Agung Prasetyo

Theo Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản, Indonesia ước tính có trữ lượng quặng nickel khoảng 5,3 tỷ tấn. Với sản lượng tiếp tục tăng mỗi năm, một số chuyên gia cảnh báo rằng quốc gia này có thể cạn kiệt nguồn tài nguyên nickel trong vòng chưa đầy 15 năm.

Ông Mekli Nahar, điều phối viên của JATAM, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực công bằng môi trường và nhân quyền liên quan đến ngành khai khoáng tại Indonesia chia sẻ:

“Người hưởng lợi nhất cuối cùng vẫn chỉ là các tập đoàn lớn. Các nỗ lực giảm phát thải của Indonesia là cần thiết, và sự can thiệp đó cần có hiệu quả sớm trước khi thiệt hại trở nên quá nghiêm trọng”.

Trong số các nguyên liệu quan trọng đối với ngành công nghiệp xe điện, bên cạnh nickel còn có đất hiếm. Và theo Cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn trên thế giới, mở ra cơ hội khai thác và phát triển ngành công nghiệp này. Điều này đem lại không chỉ cơ hội, mà cũng là thách thức lớn.

Việc khai thác có thể gây ô nhiễm môi trường, làm suy giảm hệ sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ. Do đó, sự giám sát, quản lý chặt chẽ cùng các quy định, chính sách là điều cần thiết trong tương lai.

Huy Văn/vovgiaothong.vn
Ý kiến của bạn