Văn hóa: Mạch nguồn phát triển của thành phố mang tên Bác

Sau nửa thế kỷ phát triển kể từ ngày đất nước thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế mà còn từng bước định hình bản sắc của một đô thị năng động, sáng tạo và giàu nghĩa tình...

Trong dòng chảy hội nhập và chuyển mình mạnh mẽ, điều tạo nên sức sống bền bỉ của thành phố không chỉ là những công trình hiện đại hay tốc độ tăng trưởng, mà còn là nền tảng văn hóa được vun đắp từ sự hội tụ, bao dung và khát vọng vươn lên của con người.

Trao đổi với phóng viên VOV, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy Ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng, chính văn hóa đã và đang trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và là mạch nguồn quan trọng để Thành phố Hồ Chí Minh phát triển bền vững; đồng thời gợi mở nhiều bài học có giá trị đối với các địa phương trên hành trình xây dựng bản sắc và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên mới.

PV: Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Theo đánh giá của ông, sau 50 năm, đâu là giá trị văn hóa lớn nhất mà thành phố mang tên Bác đã tạo dựng được để định hình bản sắc và sức sống?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Theo tôi, giá trị văn hóa lớn nhất mà Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo dựng được trong 50 năm qua chính là văn hóa của sự hội tụ, nghĩa tình và khát vọng vươn lên. Đây là thành phố của những dòng người đến từ nhiều vùng ền, mang theo ký ức, phong tục, giọng nói, nghề nghiệp, ước mơ và cả những nhọc nhằn riêng. Nhưng khi gặp nhau trong không gian đô thị này, họ không chỉ cùng mưu sinh, mà còn cùng tạo nên một cộng đồng năng động, cởi mở, bao dung và giàu sức sống.

Điều đặc biệt của Thành phố Hồ Chí Minh là khả năng biến sự đa dạng thành nguồn lực, biến khó khăn thành động lực, biến khác biệt thành sự phong phú của bản sắc. Thành phố không khép mình trong một khuôn mẫu cố định, mà luôn vận động, tiếp nhận, chuyển hóa và sáng tạo. Chính tinh thần ấy làm nên một bản sắc rất riêng: mạnh mẽ mà nhân hậu, hiện đại mà nghĩa tình, quyết liệt trong phát triển nhưng luôn ấm áp trong cách con người đối xử với nhau.

Một thành phố mang tên Bác không chỉ được nhận diện bằng quy mô kinh tế hay những công trình hiện đại, mà trước hết bằng phẩm chất văn hóa. Đó là tinh thần vì con người, lấy con người làm trung tâm; là ý chí vượt qua thử thách; là niềm tin vào đổi mới; là sự tử tế trong những thời khắc khó khăn. Trong đại dịch, chúng ta càng thấy rõ hơn chiều sâu nghĩa tình của thành phố này. Và chính nghĩa tình ấy, cùng với năng động và sáng tạo, đã trở thành mạch nguồn bền bỉ định hình sức sống của Thành phố Hồ Chí Minh.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Chuyên trách Ủy Ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

PV: Vậy, những nét văn hóa đặc trưng nào đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của Thành phố Hồ Chí Minh đối với người dân và bạn bè quốc tế? Đó là di sản con người, lối sống hay tinh thần bao dung, sáng tạo?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi cho rằng sức hấp dẫn của Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở sự kết hợp của nhiều lớp giá trị, nhưng trung tâm vẫn là con người. Di sản lớn nhất của thành phố không chỉ là các công trình, địa danh, ký ức đô thị, mà còn là di sản con người: những con người dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, biết chấp nhận cái mới, biết nương tựa vào nhau và cùng nhau vượt khó.

Thành phố Hồ Chí Minh hấp dẫn bởi lối sống cởi mở. Người ta có thể đến từ bất cứ nơi đâu, bắt đầu từ những công việc rất nhỏ, nhưng vẫn có cơ hội tìm thấy chỗ đứng của mình. Thành phố không hỏi quá nhiều về xuất thân, mà thường hỏi mỗi người có thể làm gì, đóng góp gì, sáng tạo gì. Chính sự rộng mở ấy tạo nên một môi trường xã hội giàu năng lượng, nơi người dân, doanh nghiệp, giới trẻ, trí thức, nghệ sĩ, người lao động nhập cư đều có thể tham gia vào dòng chảy phát triển.

Thành phố cũng hấp dẫn bởi tinh thần thực tế, linh hoạt, ít giáo điều. Văn hóa nơi đây không nặng hình thức mà nghiêng về hiệu quả; không quá khép kín mà luôn sẵn sàng tiếp nhận cái mới; không ồn ào trong biểu đạt nhưng rất sâu sắc trong nghĩa tình. Đó là lý do bạn bè quốc tế khi đến Thành phố Hồ Chí Minh thường cảm nhận rất nhanh một không khí sống động, thân thiện, trẻ trung, giàu cơ hội.

Tuy nhiên, điều quý nhất là sự bao dung. Bao dung để tiếp nhận khác biệt, sáng tạo để biến khác biệt thành giá trị, nghĩa tình để giữ con người lại với nhau. Ba yếu tố ấy làm nên bản sắc của thành phố và cũng là sức mạnh mềm rất quan trọng trong hội nhập quốc tế.

giá trị văn hóa lớn nhất mà Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo dựng được trong 50 năm qua chính là văn hóa của sự hội tụ

PV: Khi thành phố liên tục mở rộng và tiếp nhận nhiều dòng văn hóa mới, làm thế nào để bản sắc không trở thành một khái niệm chỉ tồn tại trong khẩu hiệu?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Bản sắc không thể chỉ được giữ bằng lời nói. Bản sắc phải được sống trong đời sống hằng ngày, trong không gian đô thị, trong chính sách phát triển, trong cách quản trị và trong ứng xử của cộng đồng. Nếu bản sắc chỉ xuất hiện trong các văn kiện, khẩu hiệu, lễ hội hay những dịp kỷ niệm, thì rất dễ trở thành khái niệm trang trí.

Muốn bản sắc có sức sống, phải làm cho nó hiện diện trong từng con phố, khu dân cư, chợ truyền thống, bến sông, công trình di sản, không gian công cộng, trường học, bảo tàng, nhà hát, công viên và trong cách con người đối xử với nhau.

Thành phố Hồ Chí Minh đang mở rộng, tiếp nhận nhiều dòng văn hóa mới, đó là quy luật tự nhiên của một đô thị lớn. Vấn đề không phải là đóng cửa để giữ bản sắc, mà là có năng lực chọn lọc, hấp thụ và chuyển hóa. Bản sắc không có nghĩa là bất biến, càng không phải là bảo tồn nguyên trạng mọi thứ. Bản sắc là phần cốt lõi giúp thành phố vẫn là chính mình trong quá trình thay đổi.

Theo tôi, cần làm ba việc. Thứ nhất, nhận diện rõ những giá trị cốt lõi của thành phố: năng động, sáng tạo, nghĩa tình, bao dung, dám nghĩ, dám làm, hướng về con người. Thứ hai, cụ thể hóa các giá trị ấy thành chính sách đô thị: bảo tồn ký ức, phát triển không gian văn hóa, chăm lo người lao động, hỗ trợ sáng tạo, xây dựng môi trường sống nhân văn. Thứ ba, để cộng đồng tham gia vào quá trình giữ gìn và sáng tạo bản sắc. Bản sắc không thể chỉ do cơ quan quản lý định nghĩa từ trên xuống, mà phải được người dân đồng sáng tạo, đồng gìn giữ và đồng thụ hưởng.

Một thành phố hiện đại không sợ cái mới. Điều đáng lo là cái mới đến mà không được định hướng bởi hệ giá trị. Vì vậy, giữ bản sắc hôm nay không phải là chống lại hội nhập, mà là hội nhập bằng bản lĩnh văn hóa.

Bản sắc phải được sống trong đời sống hằng ngày, trong không gian đô thị, trong chính sách phát triển, trong cách quản trị và trong ứng xử của cộng đồng

PV: Trong kỷ nguyên cạnh tranh giữa các đô thị, điều tạo nên khác biệt không còn là những tòa nhà cao hay tốc độ tăng trưởng GDP, mà là năng lực kiến tạo một không gian văn hóa khiến con người muốn đến, muốn sống và muốn cống hiến. Vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang ở đâu trên hành trình ấy?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều điều kiện để trở thành một đô thị văn hóa hấp dẫn trong khu vực. Thành phố có lịch sử đặc biệt, vị trí cửa ngõ quốc tế, thị trường lớn, cộng đồng trẻ, tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ, đời sống nghệ thuật sôi động, khả năng tiếp nhận nhanh các xu hướng mới và một nền tảng xã hội cởi mở. Đây là những điều kiện rất quý để phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, du lịch đô thị, kinh tế đêm, các không gian nghệ thuật, thiết kế, âm nhạc, điện ảnh, thời trang, truyền thông, ẩm thực và lễ hội.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn rằng hành trình ấy vẫn còn nhiều việc phải làm. Một đô thị khiến con người muốn đến, muốn sống và muốn cống hiến không chỉ cần cơ hội việc làm, mà còn cần chất lượng sống. Người dân cần giao thông thuận tiện hơn, nhà ở phù hợp hơn, không gian xanh nhiều hơn, dịch vụ công thân thiện hơn, trường học và bệnh viện tốt hơn, thiết chế văn hóa gần dân hơn. Người trẻ cần không gian sáng tạo. Người lao động nhập cư cần cảm giác được thuộc về. Người yếu thế cần được bảo vệ. Doanh nghiệp sáng tạo cần môi trường pháp lý thông thoáng và nh bạch.

Thành phố Hồ Chí Minh đang có lợi thế rất lớn về năng lượng xã hội và sức hấp dẫn con người. Nhưng để trở thành đô thị văn hóa tầm khu vực, thành phố cần chuyển từ phát triển văn hóa theo sự kiện sang phát triển văn hóa như một hệ sinh thái; từ coi văn hóa là phần bổ sung cho kinh tế sang coi văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển; từ xây dựng công trình đơn lẻ sang kiến tạo môi trường sống giàu trải nghiệm văn hóa.

Trong kỷ nguyên mới, cạnh tranh đô thị không chỉ là cạnh tranh về hạ tầng cứng, mà còn là cạnh tranh về cảm xúc, niềm tin, cơ hội, bản sắc và chất lượng sống. Thành phố Hồ Chí Minh đã có nền tảng rất tốt, nhưng cần một chiến lược mạnh mẽ hơn để biến sức sống văn hóa thành sức mạnh mềm, thành thương hiệu đô thị và thành năng lực cạnh tranh quốc tế.

Thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều điều kiện để trở thành một đô thị văn hóa hấp dẫn trong khu vực

PV: Theo PGS.TS, từ thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh, bài học nào về phát triển văn hóa có thể lan tỏa tới các địa phương khác?

PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, tôi nghĩ có một số bài học rất đáng suy ngẫm.

Bài học thứ nhất là phải coi văn hóa không chỉ là lĩnh vực quản lý, mà là mạch nguồn phát triển. Văn hóa không đứng bên ngoài kinh tế - xã hội, mà thấm vào cách thành phố vận hành, cách con người làm việc, cách chính quyền phục vụ, cách doanh nghiệp kinh doanh, cách cộng đồng chia sẻ và sáng tạo. Khi văn hóa trở thành nền tảng của phát triển, tăng trưởng sẽ có chiều sâu hơn, bền vững hơn và nhân văn hơn.

Bài học thứ hai là phải biết biến sự đa dạng thành nguồn lực. Nhiều địa phương lo ngại sự giao thoa văn hóa có thể làm phai nhạt bản sắc. Nhưng Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, nếu có một hệ giá trị đủ mạnh, sự đa dạng không làm yếu bản sắc, mà làm bản sắc phong phú hơn. Điều quan trọng là địa phương phải nhận diện được lõi văn hóa của mình, từ đó tự tin tiếp nhận cái mới, chuyển hóa cái mới thành giá trị mới.

Bài học thứ ba là phát triển văn hóa phải gắn với con người cụ thể. Không thể nói phát triển văn hóa nếu người dân thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, trẻ em thiếu sân chơi, người lao động thiếu nơi ở ổn định, người dân ít có cơ hội tiếp cận nghệ thuật, di sản và các dịch vụ văn hóa. Văn hóa phải đi vào đời sống, đến với từng khu dân cư, từng trường học, từng cộng đồng, từng nhóm xã hội.

Bài học thứ tư là cần phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo như một hướng đi chiến lược. Văn hóa không chỉ để gìn giữ, mà còn để tạo ra giá trị mới, việc làm mới, sản phẩm mới, thương hiệu mới. Mỗi địa phương đều có thể tìm thấy lợi thế riêng của mình từ di sản, ẩm thực, làng nghề, nghệ thuật, cảnh quan, lễ hội, con người, ký ức đô thị hay bản sắc cộng đồng.

Cuối cùng, bài học quan trọng nhất là văn hóa phải gắn với khát vọng phát triển. Thành phố Hồ Chí Minh hấp dẫn không chỉ vì đã có gì, mà vì luôn tạo cảm giác đang chuyển động, đang mở ra cơ hội, đang mời gọi con người cùng tham gia kiến tạo tương lai. Đó cũng là điều mà nhiều địa phương có thể học hỏi: phát triển văn hóa không phải để hoài niệm quá khứ, mà để nuôi dưỡng niềm tin, khơi dậy sáng tạo và mở đường cho tương lai.

PV: Xin cảm ơn ông!