Đột phá mạng lưới metro TP.HCM: Hướng tới tự chủ công nghệ và nội địa hoá 40%

Nhằm hiện thực hóa mạng lưới giao thông công cộng hiện đại, Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM (MAUR) đã được giao làm chủ đầu tư 10 dự án lớn, bao gồm cả chuẩn bị dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phục vụ tuyến đướng sắt Bến Thành - Cần Giờ.

Đại diện MAUR đã có những chia sẻ toàn diện với phóng viên Ban VOV Giao thông quốc gia về lộ trình trong công tác chuẩn bị đầu tư các dự án giai đoạn 2026–2030, những thách thức cốt lõi và khát vọng đưa nhà thầu Việt làm chủ hoàn toàn công nghệ đường sắt đô thị trong 5 năm tới.

Liên quan đến nội dung này, phóng viên có cuộc trao đổi với ông Phan Công Bằng - Trưởng ban Quản lý Đường sắt Đô thị TP.HCM.

 

TP.HCM đang nỗ lực nội địa hóa trong công nghệ đường sắt đô thị (Ảnh: Hà Khánh)

PV: Thưa ông, để đạt được mục tiêu nội địa hóa hệ thống đường sắt đô thị như kỳ vọng, lộ trình làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp Việt sẽ được triển khai cụ thể ra sao?

Ông Phan Công Bằng: Chúng ta phải làm sao để các nhà thầu trong nước từng bước làm chủ công nghệ, từ đó mạnh dạn lựa chọn nhà thầu trong nước triển khai thi công. Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, từ trước đến nay chưa có một nhà thầu Việt Nam nào tự thi công được hệ thống đường sắt đô thị ngầm. Nếu không quyết liệt “nội địa hóa”, mãi mãi chúng ta sẽ chỉ dừng lại ở vai trò nhà thầu phụ. Do đó, “nội địa hóa” là một trong những tiêu chí bắt buộc khi triển khai dự án này.

Nhìn lại lịch sử ngành xây lắp, cách đây khoảng 30 năm, chúng ta gần như phải thuê hoàn toàn nhà thầu nước ngoài để thi công cọc khoan nhồi; cách đây khoảng 20 năm, hệ thống cầu dây văng phức tạp cũng phải phụ thuộc vào đối tác ngoại. Đến nay, chúng ta đã cơ bản làm chủ công nghệ cọc khoan nhồi và toàn bộ quy trình xây dựng cầu dây văng, chỉ còn phải nhập khẩu cáp cùng một số hạng mục kỹ thuật chuyên sâu. Tôi tin rằng trong khoảng 5 năm tới, các nhà thầu trong nước hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ thi công đường sắt đô thị. Đây là mục tiêu khả thi.

Thứ hai là hệ thống các đơn vị tư vấn. Hiện tại, nước ta vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các đơn vị tư vấn nước ngoài. Ban Quản lý đã yêu cầu các đơn vị này phải bố trí nhân sự phù hợp, trước mắt thực hiện liên danh với nhà thầu nước ngoài và thuê thêm chuyên gia, nhưng mục tiêu lâu dài là phải chuyển giao công nghệ để “nội địa hóa” tối đa công tác tư vấn.

Thứ ba, liên quan đến đầu máy, toa xe và thông tin tín hiệu. Hiện nay, Tập đoàn Thaco đang ký kết hợp tác với Hyundai Rotem (Hàn Quốc) để từng bước nhận chuyển giao công nghệ sản xuất đầu máy, toa xe.

Ở mảng thông tin tín hiệu và các hạng mục phụ trợ khác, các nhà thầu Việt Nam vốn có thế mạnh và sẵn sàng tiếp nhận công nghệ. Ngoài ra, Tập đoàn Hòa Phát cũng đang nghiên cứu sản xuất hệ thống ray đạt tiêu chuẩn. Mục tiêu chúng ta là có thể nội địa hóa được 30% - 40% toàn hệ thống đường sắt đô thị. Đây sẽ là bước phát triển vượt bậc.

Đặc biệt, nội địa hóa không chỉ phục vụ giai đoạn xây dựng mà còn tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho quá trình khai thác, vận hành sau này, nhất là việc chủ động sản xuất vật tư thay thế. Ngoài đầu tư, công tác vận hành rất quan trọng.

Nếu ngay từ bây giờ chúng ta không mạnh dạn nghiên cứu cơ chế “nội địa hóa” để tự chủ các hạng mục này, bài toán vận hành đường sắt đô thị trong tương lai chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

PV: Song song với chiến lược nội địa hóa, công tác chuẩn bị đầu tư các dự án giai đoạn 2026-2030 đang được Ban quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM triển khai như thế nào, đặc biệt là nhóm dự án tăng cường kết nối vùng?

Ông Phan Công Bằng: Hiện nay, Ban quản lý đường sắt đô thị cũng đã phối hợp với các đơn vị liên quan, các phường, xã để triển khai. Chúng tôi đang được giao trực tiếp lập các dự án đầu tư đối với tuyến đường sắt đô thị số 1 (Thành phố mới Bình Dương - Suối Tiên), tuyến số 2 (Thành phố Thủ Dầu Một - Thành phố Hồ Chí Minh); và tuyến số 6, Vành đai trong (Phú Hữu - Bà Quẹo - Vòng xoay Phú Lâm - Phú Hữu), Giai đoạn 1: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất – Phú Hữu.

Còn lại các nhà đầu tư đang thực hiện các dự án tuyến metro số 4, tuyến metro số 2.2 (từ Thủ Thiêm đi Bến Thành và đi Long Thành), tuyến Bến Thành - Cần Giờ, tuyến Tham Lương đi An Hạ.

Với hệ thống đường sắt đô thị này cơ bản đã đi vào những khu vực trung tâm và kết nối vào các khu đô thị có chiều hướng phát triển. Đây là một trong những định hướng phát triển không gian đô thị mở rộng rất phù hợp để phát triển không gian rộng hơn, kết nối các phương thức giao thông, đặc biệt là giao thông bằng đường sắt đô thị.

PV: Vậy tiến độ giải phóng mặt bằng và kế hoạch khởi công cụ thể của các tuyến này ra sao, thưa ông?

Ông Phan Công Bằng: Cụ thể, sau khi phê duyệt hướng tuyến, kể cả các tuyến của các nhà đầu tư và tuyến của Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM làm chủ đầu tư, chúng tôi sẽ triển khai việc lập trước dự án đầu tư về công tác di dời hạ tầng kỹ thuật, giải phóng mặt bằng và sẽ triển khai trước. Bởi vì, thông thường các tuyến đường sắt đô thị hiện nay đang đi vào trung tâm, vào các khu vực có cả hạ tầng kỹ thuật cũng như dân cư đang sinh sống.

Chúng tôi phải triển khai trước công tác giải phóng mặt bằng và dự kiến khoảng tháng 9/2026, một số dự án đầu tư sẽ có hướng tuyến, sau đó sẽ bắt tay vào lập dự án đầu tư giải phóng mặt bằng và triển khai giải phóng mặt bằng trong năm 2026.

Sau đó, chúng tôi sẽ hoàn thiện dự án đầu tư vào tuyến chính, tức là đầu tư dự án đường sắt đô thị và sẽ khởi công. Đối với tuyến số 1 và tuyến số 6, chúng tôi sẽ phấn đấu để khởi công trong năm 2026 nếu đủ điều kiện về mặt bằng; hoặc vào quý 1/2027.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!