Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức y tế thế giới, ước tính năm 2021, Việt Nam có khoảng 7.700 người tử vong vì đuối nước và tỷ lệ đuối nước của Việt Nam là 7,8/100 nghìn dân, thuộc mức cao nhất trong khu vực Tây Thái Bình Dương.
Mặc dù, số lượng các ca đuối nước tại Việt Nam xu hướng giảm dần qua các năm nhưng đuối nước luôn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em và người chưa thành niên. Những con số nêu trên cho thấy tình hình rất đáng báo động.Vậy, thời gian tới, Việt Nam cần những giải pháp gì để có thể thực hiện hiệu quả hơn nữa?
Chính phủ đã phê duyệt chương trình phòng chống tai nạn thương tích trẻ em giai đoạn 2021 – 2030 đã đặt mục tiêu, đến năm 2025 giảm 10% trẻ em bị đuối nước, 50% trẻ em từ 6 đến 16 tuổi biết bơi an toàn. Đồng thời, Chính phủ cũng đa ban hành nhiều Công điện như Công điện số 398 ngày 02/5/2022, Công điện số 60 ngày 22/6/2024 và mới đây nhất là Công điện số 118 ngày 19/11/2024 về tăng cường công tác phòng, chống đuối nước đối với trẻ em, học sinh.
Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, kịp thời các Công điện này, chính quyền các địa phương cần chỉ đạo, thực hiện rà soát, lập bản đồ cảnh báo kịp thời các địa điểm có nguy cơ gây đuối nước cao, nhanh chóng lắp đặt các rào chắn, biển cảnh báo, cảnh giới, bố trí người trực, nhắc nhở tại các khu vực này.
Chính quyền địa phương cũng cần bố trí địa điểm, nguồn lực, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ việc tổ chức dạy bơi, thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phòng chống đuối nước của các cơ sở giáo dục, chính quyền các cấp. Đặc biệt, cần phải làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu nếu để xảy ra các vụ tai nạn đuối nước.
Về phía Bộ Giáo dục và đào tạo, cùng với việc chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở giáo dục triển khai các nhiệm vụ, giáo dục kiến thức, kỹ năng phòng chống đuối nước, theo hướng đổi mới cách giảng dạy trực quan, sinh động để hấp dẫn và thu hút các em cùng tham gia.
Song song với đó, ngành giáo dục tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào dạy bơi an toàn trong trường học, chú trọng đến chất lượng, thay vì thành tích. Trong đó, giáo dục kỹ năng an toàn cho trẻ em trong môi trường nước, kỹ năng ứng cứu, xử lý tình huống khi gặp các trường hợp đuối nước cần được ưu tiên hơn nữa.
Cùng với đó, ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục rà soát lại quy trình và tăng cường giám sát chặt chẽ quá trình dạy và học bơi, đảm bảo an toàn cho các em tại 2.000 bể bơi trong các cơ sở giáo dục trên cả nước.
Bộ Lao Động- Thương binh và xã hội tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện công tác phòng, chống đuối nước trẻ em tại các địa phương, nhất là các địa phương thường xuyên xảy ra đuối nước trẻ em.
Việt Nam có điều kiện tự nhiên với hơn 3.000 km bờ biển và có khoảng hơn 2300 con sông dài trên 10km, cùng hàng chục nghìn các ao, hồ lớn nhỏ trên cả nước, tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ mất an toàn đối với các vùng nước, đặc biệt đối với trẻ em.
Bởi vậy, tùy vào điều kiện thực tế, điều kiện kinh tế- xã hội mà các địa phương nên bố trí nguồn lực để đầu tư, bố trí các hàng rào, các biển cảnh báo tại các khu vực vùng nước hở. Huy động nguồn lực xã hội hóa để các doanh nghiệp trên địa bàn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong phòng chống đuối nước,
Ngay cả các khu du lịch, khách sạn, các khu vực công trình xây dựng, những khu vực mương hở ngập do mưa lũ cũng cần có rào chắn và biển cảnh báo nguy hiểm để hạn chế những vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa đuối nước ở trẻ nhỏ. Người lớn, cha mẹ học sinh cần tăng cường giám sát chặt chẽ trẻ nhỏ, nâng cao kiến thức, nhận thức về những nguy cơ đuối nước để giáo dục, hướng dẫn các em nhận biết các vùng nước nguy hiểm, chấp hành các quy định về an toàn giao thông khi cho con em tham gia bằng phương tiện thủy.
Rủi ro đuối nước có thể rình rập ở khắp mọi nơi.Tuy nhiên, điều quan trọng và cần được ưu tiên hàng đầu là các nhà trường, gia đình, và các địa phương cần sớm tổ chức các lớp về nhận thức, kiến thức và kỹ năng an toàn cho trẻ em, giúp các em tự nhận diện các nguy cơ và chủ động phòng tránh đuối nước ngay cả khi biết bơi.