Nghị quyết số 10, "nam châm" hút vốn và công nghệ cho hạ tầng giao thông, logistics

Sự ra đời của Nghị quyết số 10 NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là bước đi cực kỳ quan trọng hoàn thiện thể chế, để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài có vào các dự án hạ tầng giao thông vận tải, logistics...

Giai đoạn 2026-2035, nhu cầu vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng nói chung của đất nước, trong đó có hạ tầng giao thông là vô cùng lớn, lên đến hàng trăm tỷ USD trong giai đoạn 5 năm sắp tới. Trong điều kiện năng lực vốn và công nghệ trong nước còn nhiều hạn chế, sự ra đời của Nghị quyết số 10 NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là bước đi cực kỳ quan trọng hoàn thiện thể chế, để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài có vào các dự án hạ tầng giao thông vận tải, logistics, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, tăng tỷ lệ nội địa hóa, gắn với đào tạo nhân lực chất lượng cao để nhanh chóng làm chủ các công nghệ này.

Ông Phạm Việt Sơn, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam (VIDIFI) cho biết, trước đây, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào hạ tầng thường e ngại nhiều rủi ro liên quan tới giải phóng mặt bằng, doanh thu thu phí và các khung pháp lý. Nhưng Nghị quyết số 10 với những điểm mới đột phá về tư duy, đã yêu cầu xây dựng các cơ chế đặc thù để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, đồng hành để giải quyết các khó khăn, tạo điều kiện để các tập đoàn đa quốc gia có thể tham gia vào các dự án về hạ tầng, trong đó có hạ tầng giao thông:

“Khi tham gia thì có yêu cầu là liên kết với các doanh nghiệp Việt. Tôi nghĩ nếu VIDIFI được giao các tuyến hạ tầng giao thông thì chúng tôi có thể mời gọi các tập đoàn xây dựng của nước ngoài để cùng tham gia. Chúng tôi góp một phần và các tập đoàn đó góp một phần vốn để giảm áp lực một phần vốn cho chúng tôi, giúp chúng tôi có thể tiếp nhận được những công nghệ và quản trị hiện đại cho các công trình hạ tầng giao thông cho đất nước”, ông Sơn nói. 

Đột phát phát triển hạ tầng, trong đó trọng tâm là hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số và công nghệ tiếp tục được xác định là một trong ba đột phá chiến lược, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Theo tính toán, Việt Nam cần khoảng 1500 đến 1600 tỷ USD vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi đó ngân sách chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu. Riêng giai đoạn 2025 -2030, Việt Nam cần khoảng 245 tỷ USD đầu tư cho các dự án trọng điểm như cao tốc, đường sắt tốc độ cao và năng lượng. Vốn ngân sách chỉ đáp ứng khoảng 70%.

Song, không chỉ là quy mô vốn, mà với Nghị quyết số 10, vấn đề được đặc biệt nhấn mạnh là xây dựng và phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, với lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây và khu vực cần thu hút vốn có chất lượng, nhưng đồng thời cũng chính là một trong những điều kiện tiên quyết để thu hút vốn đầu tư phát triển xã hội.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị diễn ra ngày 30/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu này: “Đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia”.

Nghị quyết số 10 đã tạo ra định hướng chính sách rõ ràng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án hạ tầng có quy mô lớn. (Ảnh nh hoạ: VOV)

Ông Lê Văn Đạt, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược, Bồi dưỡng cán bộ xây dựng (Bộ Xây dựng) đánh giá, Nghị quyết số 10 đã tạo ra định hướng chính sách rõ ràng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào các dự án hạ tầng có quy mô lớn. Nghị quyết không chỉ dừng lại ở thu hút nguồn vốn mà còn kêu gọi công nghệ, kinh nghiệm quản trị, năng lực tài chính dài hạn và các tiêu chuẩn vận hành quốc tế:

“Chúng ta cụ thể hóa Nghị quyết bằng danh mục các dự án rõ ràng, cơ chế đầu tư hấp dẫn, nh bạch và các tiêu chí để lựa chọn nhà đầu tư chiến lược thì đây sẽ là cơ sở quan trọng để thu hút dòng vốn chất lượng cao góp phần phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại và có sức cạnh tranh cao hơn”.

TS Lê Duy Bình, Giám đốc Econoca Việt Nam nhìn nhận, Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bước ngoặt quan trọng về mặt tư duy chuyển thu hút vốn FDI ở quy mô lớn sang chọn lọc nguồn vốn một cách cẩn trọng hơn với các tiêu chí về công nghệ, chất lượng nguồn vốn đầu tư. Điều này giúp chúng ta định hướng được nguồn vốn đầu tư ngoại vào cơ sở hạ tầng, trong đó có hạ tầng giao thông một cách đồng bộ hơn:

Chúng ta yêu cầu dạng vốn FDI thế hệ mới này sẽ phải gắn liền với việc phát triển hạ tầng trọng điểm bao gồm hệ thống giao thông để tối ưu hóa được hệ thống logistics Việt Nam, giảm bớt chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, giảm chi phí vận tải.

Chiến lược này giúp chúng ta đa dạng hóa được nguồn vốn và hình thức để đầu tư, có thể mở đường cho các hình thức đầu tư công tư PPP giữa các khu vực nguồn vốn đầu tư nước ngoài và nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn tư nhân trong nước để trực tiếp tài trợ cho các dự án giao thông”.

Theo TS Lê Duy Bình, Nghị quyết số 10 cũng mở đường để xây dựng một hệ sinh thái và phụ trợ để thúc đẩy và định hướng dòng vốn ngoại kết nối với các hành lang kinh tế, từ đó tạo ra đòn bẩy để phát triển hệ thống năng lượng, viễn thông đi cùng với hệ thống hạ tầng giao thông.

Trước đó, chia sẻ với VOV Giao thông Quốc gia tại nhiều diễn đàn về phát triển hạ tầng, ông Đặng Huy Đông, Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định, nguồn vốn đầu tư quốc tế vô cùng lớn, quan trọng là điều kiện và môi trường trong nước đó đáp ứng được yêu cầu để nhà đầu tư rót vốn hay không.

Với Nghị quyết số 10 vừa được Bộ Chính trị ban hành, ông Đông cho rằng: “Cách tiếp cận mới của Nghị quyết là chúng ta chủ động kêu gọi theo cái chúng ta muốn, tức là theo cầu. Nghị quyết này mở ra cho các địa phương tính chủ động và đòi hỏi tính chủ động từ từng địa phương là hãy mời gọi dòng vốn mà chính địa phương mình cần. Còn đối với những ngành, lĩnh vực thuộc về hạ tầng quốc gia như giao thông, điện, năng lượng thì phải đi theo cầu của ngành đấy”.

Các tiêu chí cho "FDI thế hệ mới 

Nghị quyết số 10 đã xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong việc phát triển khu vực kinh tế FDI, trong đó có việc khuyến khích doanh nghiệp FDI tăng cường liên kết, chia sẻ tri thức, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong nước; yêu cầu doanh nghiệp FDI cam kết về chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam.

Do đó, mục tiêu thu hút vốn FDI cho các dự án hạ tầng giao thông đã không còn dừng ở số lượng vốn đăng ký mà đòi hỏi “Các tiêu chí cho "FDI thế hệ mới".

Theo mục tiêu phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn 2045, các quy hoạch đã được phê duyệt, trong giai đoạn tới cần triển khai rất nhiều công trình giao thông trọng điểm quốc gia như các tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, các cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng đô thị đặc biệt là đường sắt đô thị. Đây đều là những dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, thời gian đầu tư dài và đòi hỏi nguồn vốn lớn nên việc huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một kênh quan trọng để bổ sung cho ngân sách Nhà nước và các nguồn lực trong nước.

Hơn nữa, hạ tầng giao thông hiện nay không chỉ dừng lại ở việc xây dựng đường bộ, đường sắt, cảng biển, hàng không mà còn gắn với logistics thông nh, giao thông xanh, chuyển đổi số, quản lý khai thác hệ thống hiệu quả và đảm bảo an toàn. Do đó, để thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài cho các dự án hạ tầng giao thông thì cần chuyển tư duy từ kêu gọi vốn sang tư duy lựa chọn nhà đầu tư chiến lược,

Trước tiên, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế gồm những quy định của pháp luật để đảm bảo những khung pháp lý nh bạch, rõ ràng khiến cho việc thu hút vốn đầu tư vào hạ tầng nói chung và hạ tầng giao thông nói riêng trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhà đầu tư trong nước, vì điều quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài là quy định pháp lý phải nh bạch, dễ tiên liệu và có tính bền vững, lâu dài để họ có thể yên tâm bỏ vốn đầu tư nhất là khi các dự án về hạ tầng thường là các dự án có quy mô lớn, thời gian thu vốn khá dài.

Thứ hai, cần hoàn thiện các cơ chế hợp tác một cách phù hợp trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, chia sẻ một cách hợp lý vào một số rủi ro lớn như doanh thu, giải phóng mặt bằng, các thủ tục đầu tư…Nếu cơ chế không đủ rõ và không đủ hấp dẫn thì rất khó để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án giao thông có quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài.

Nghị quyết số 10 đã nêu rõ: Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án. Cơ chế ưu đãi trong thu hút đầu tư này là phù hợp với xu thế và thông lệ của thế giới. Chúng ta sẽ xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ở nhiều góc độ, như hiệu quả về kinh tế, xã hội, về chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực…

Việc thu hút vốn nước ngoài không nên chỉ nhìn vào lượng vốn mà quan trọng là phải đặt yêu cầu về công nghệ, về quản trị, vận hành an toàn, môi trường và chuyển giao cho phía Việt Nam. Chúng ta cần lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực thực sự, có kinh nghiệm quốc tế và cam kết lâu dài chứ không chỉ lựa chọn theo tiêu chí vốn hoặc đề xuất tài chính ban đầu.

Ảnh nh họa; ChatGPT

Mặt khác, điều này đòi hỏi chúng ta phải có danh mục các dự án giao thông một cách rõ ràng, có thứ tự ưu tiên, có quy hoạch ổn định và phương án tài chính mang tính chất khả thi. Các dự án cần được chuẩn bị kỹ từ khâu quy hoạch, giải phóng mặt bằng đến khâu thu hồi vốn để các nhà đầu tư có thể nhìn thấy được các cơ hội dài hạn và mức độ rủi ro để có thể kiểm soát được.

Cùng với đó là định hướng dòng vốn ngoại vào các dự án có công nghệ cao, hạ tầng xanh như đường sắt đô thị, đường sắt tốc đô thị, cảng biển xanh…Ưu tiên các lĩnh vực chuyển giao công nghệ, giúp nâng cao ý nghĩa và giá trị của dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Để sử dụng hiệu quả đồng vốn này, còn cần quản lý dự án theo cả vòng đời, tức là quản lý từ khâu chuẩn bị đầu tư, xây dựng, khai thác, vận hành đến bảo trì, đồng thời có cơ chế giám sát nh bạch về tiến độ, chất lượng, chi phí, khai thác an toàn hiệu quả và tác động môi trường. Như vậy chúng ta mới có thể hạn chế được tình trạng chậm tiến độ, đội vốn hoặc công trình làm xong nhưng khai thác không hiệu quả.

Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một định hướng chiến lược vô cùng quan trọng để từ đó hoàn thiện thể chế, xây dựng và phát triển cả một hệ sinh thái gắn với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó tạo động lực huy động nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế cho hạ tầng giao thông.

Nhưng để thành công thì vấn đề then chốt vẫn là phải có những dự án tốt, được triển khai tốt, lựa chọn đúng nhà đầu tư và quản lý hiệu quả trong suốt vòng đời của dự án.

Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 10 cần đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các nghị quyết trụ cột đã được Trung ương ban hành và đang được quyết liệt triển khai, như Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, để hướng đến mục tiêu chung: khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực trong và ngoài nước, hướng đến làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của Quốc gia, xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng.