Các tiêu chí cho "FDI thế hệ mới"

Nghị quyết 10 đã xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong việc phát triển khu vực kinh tế FDI, trong đó có việc khuyến khích DN FDI tăng cường liên kết, chia sẻ tri thức, hỗ trợ phát triển DN trong nước; yêu cầu DN FDI cam kết về chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo nguồn nhân lực Việt Nam.

Do đó, mục tiêu thu hút vốn FDI cho các dự án hạ tầng giao thông đã không còn dừng ở số lượng vốn đăng ký mà đòi hỏi “Các tiêu chí cho "FDI thế hệ mới".

 

Theo mục tiêu phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn 2045, các quy hoạch đã được phê duyệt, trong giai đoạn tới cần triển khai rất nhiều công trình giao thông trọng điểm quốc gia như các tuyến đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, các cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng đô thị đặc biệt là đường sắt đô thị. Đây đều là những dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao, thời gian đầu tư dài và đòi hỏi nguồn vốn lớn nên việc huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một kênh quan trọng để bổ sung cho ngân sách Nhà nước và các nguồn lực trong nước.

Hơn nữa, hạ tầng giao thông hiện nay không chỉ dừng lại ở việc xây dựng đường bộ, đường sắt, cảng biển, hàng không mà còn gắn với logistics thông nh, giao thông xanh, chuyển đổi số, quản lý khai thác hệ thống hiệu quả và đảm bảo an toàn. Do đó, để thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài cho các dự án hạ tầng giao thông thì cần chuyển tư duy từ kêu gọi vốn sang tư duy lựa chọn nhà đầu tư chiến lược,

 Trước tiên, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế gồm những quy định của pháp luật để đảm bảo những khung pháp lý nh bạch, rõ ràng khiến cho việc thu hút vốn đầu tư vào hạ tầng nói chung và hạ tầng giao thông nói riêng trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhà đầu tư trong nước, vì điều quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài là quy định pháp lý phải nh bạch, dễ tiên liệu và có tính bền vững, lâu dài để họ có thể yên tâm bỏ vốn đầu tư nhất là khi các dự án về hạ tầng thường là các dự án có quy mô lớn, thời gian thu vốn khá dài.

Thứ hai, cần hoàn thiện các cơ chế hợp tác một cách phù hợp trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, chia sẻ một cách hợp lý vào một số rủi ro lớn như doanh thu, giải phóng mặt bằng, các thủ tục đầu tư…Nếu cơ chế không đủ rõ và không đủ hấp dẫn thì rất khó để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào các dự án giao thông có quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn dài.

Nghị quyết số 10 đã nêu rõ: Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án. Cơ chế ưu đãi trong thu hút đầu tư này là phù hợp với xu thế và thông lệ của thế giới. Chúng ta sẽ xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ở nhiều góc độ, như hiệu quả về kinh tế, xã hội, về chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực…

Việc thu hút vốn nước ngoài không nên chỉ nhìn vào lượng vốn mà quan trọng là phải đặt yêu cầu về công nghệ, về quản trị, vận hành an toàn, môi trường và chuyển giao cho phía Việt Nam. Chúng ta cần lựa chọn các nhà đầu tư có năng lực thực sự, có kinh nghiệm quốc tế và cam kết lâu dài chứ không chỉ lựa chọn theo tiêu chí vốn hoặc đề xuất tài chính ban đầu.

Mặt khác, điều này đòi hỏi chúng ta phải có danh mục các dự án giao thông một cách rõ ràng, có thứ tự ưu tiên, có quy hoạch ổn định và phương án tài chính mang tính chất khả thi. Các dự án cần được chuẩn bị kỹ từ khâu quy hoạch, giải phóng mặt bằng đến khâu thu hồi vốn để các nhà đầu tư có thể nhìn thấy được các cơ hội dài hạn và mức độ rủi ro để có thể kiểm soát được. Cùng với đó là định hướng dòng vốn ngoại vào các dự án có công nghệ cao, hạ tầng xanh như đường sắt đô thị, đường sắt tốc đô thị, cảng biển xanh…Ưu tiên các lĩnh vực chuyển giao công nghệ, giúp nâng cao ý nghĩa và giá trị của dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Để sử dụng hiệu quả đồng vốn này, còn cần quản lý dự án theo cả vòng đời, tức là quản lý từ khâu chuẩn bị đầu tư, xây dựng, khai thác, vận hành đến bảo trì, đồng thời có cơ chế giám sát nh bạch về tiến độ, chất lượng, chi phí, khai thác an toàn hiệu quả và tác động môi trường. Như vậy chúng ta mới có thể hạn chế được tình trạng chậm tiến độ, đội vốn hoặc công trình làm xong nhưng khai thác không hiệu quả.

Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một định hướng chiến lược vô cùng quan trọng để từ đó hoàn thiện thể chế, xây dựng và phát triển cả một hệ sinh thái gắn với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó tạo động lực huy động nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế cho hạ tầng giao thông. Nhưng để thành công thì vấn đề then chốt vẫn là phải có những dự án tốt, được triển khai tốt, lựa chọn đúng nhà đầu tư và quản lý hiệu quả trong suốt vòng đời của dự án.

Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 10 cần đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các nghị quyết trụ cột đã được Trung ương ban hành và đang được quyết liệt triển khai, như Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, để hướng đến mục tiêu chung: khơi dậy, phát huy mọi nguồn lực trong và ngoài nước, hướng đến làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của Quốc gia, xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng.