Đây là một trong những mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 158 do Chính phủ ban hành để thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
PV Ban VOV Giao thông Quốc gia đã có cuộc đối thoại với Kiến trúc sư Đinh Đăng Hải, Mạng lưới Thành phố sống tốt, Tổ chức HealthBridge Canada tại Việt Nam về vấn đề này.
PV: Theo ông, đâu là những rào cản lớn nhất khiến tiến độ cải tạo, xây dựng lại các chung cư cũ, nguy hiểm cấp độ D tại Hà Nội vẫn còn chậm dù đây được coi là một nhiệm vụ cấp bách?
Kiến trúc sư Đinh Đăng Hải: Nguyên nhân cũng không nằm ở một thủ tục riêng lẻ nào, mà do chúng ta đang phải thực hiện giải quyết đồng thời rất nhiều vấn đề phức tạp, như quyền sử dụng đất hoặc các vấn đề về quy hoạch, đền bù giải phóng mặt bằng, các giải pháp về tái định cư như thế nào… Chỉ cần một trong những khâu đó chưa được giải quyết một cách triệt để thì gần như toàn bộ những phần còn lại của dự án có thể bị chậm.
Một rào cản lớn khác là cách tiếp cận vào các dự án này còn khá phân tán. Chúng ta đang tập trung vào giải quyết cho từng tòa nhà và từng dự án, trong khi một khu vực nó còn liên quan đến rất nhiều vấn đề khác nữa, ví dụ như trường học, chợ, về cây xanh, về không gian công cộng...
Vì vậy nếu chỉ dỡ bỏ một tòa nhà cũ và xây lại tòa nhà mới với tỉ lệ xây dựng cao lên thì cũng chưa chắc đã giải quyết được, thậm chí có khi còn tạo thêm những vấn đề mới, làm tăng áp lực lên hạ tầng đô thị hiện có.
PV: Theo ông, để đạt mục tiêu hoàn thành cải tạo xây dựng lại toàn bộ chung cư cũ nguy hiểm cấp D trước năm 2030 như mục tiêu đề ra thì Hà Nội cần tháo gỡ những vướng mắc nào về cơ chế, hay là quy hoạch, hoặc giải về phóng mặt bằng và đồng thuận của người dân?
Kiến trúc sư Đinh Đăng Hải: Đối với những dự án như thế này, vấn đề quy hoạch bao giờ cũng cần phải đi trước. Thành phố chắc chắn cần xác định rõ phạm vi của tái thiết lại các khu vực này, ví dụ như chỉ tiêu về dân số và các hạ tầng xã hội, giao thông, trường học, hoặc là không gian công cộng, hay khả năng kết nối giữa các khu vực nhà ở này với giao thông công cộng trong tương lai.
Chúng ta không nên tìm các nhà đầu tư hoặc tìm các cách thức đầu tư trước khi có quy hoạch. Bởi vì như thế chúng ta có thể đang đẩy việc cân đối lợi ích của dự án lên chính các dự án đó. Vì thế nó sẽ có khả năng tăng mật độ xây dựng trên phạm vi đó để tạo ra lợi nhuận, lợi ích về mặt kinh tế.
Thành phố cần có một Ban, hoặc một đơn vị chịu trách nhiệm cho toàn bộ dự án của Thành phố, hoặc chịu trách nhiệm xuyên suốt cho khu vực đó, hơn là tách lẻ ra từng công trình một. Bởi vì cái này liên quan đến các kế hoạch dài hạn, không chỉ là xây lại tòa nhà, mà nó còn là đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khác. Vì vậy, có một cơ quan chịu trách nhiệm xuyên suốt và kết nối được các bên liên quan mới làm cho dự án có thể hoạt động tốt.
Tôi cho rằng không nên coi những ý kiến của nhân dân là những khó khăn mà chúng ta cần phải tháo gỡ. Thực ra, người dân là một bên tham gia vào quá trình tái thiết chính nơi ở của họ. Việc tạo ra sự đồng thuận của người dân sẽ làm cho dự án bền vững hơn. Khi chúng ta có những thông tin đủ rõ ràng về quyền lợi, về nghĩa vụ, về các vấn đề đã được xác định cụ thể thì càng làm tăng mức độ tin tưởng của mọi người.
Ngoài ra, về việc giải phóng mặt bằng, người dân họ cần biết là họ sẽ được tạm cư hoặc tái định cư như thế nào, ở trong bao lâu và có phải đóng thêm chi phí gì không… Rồi sau khi tái thiết thì khả năng tiếp cận các hạ tầng của khu vực, ví dụ như việc làm, trường học như thế nào, y tế ra sao… Chúng ta phải để cho mọi người thấy rằng chúng ta đang tái thiết một đô thị, một khu vực có chất lượng sống tốt hơn điều kiện là đang có.
PV: Trong bối cảnh chi phí đầu tư lớn, khả năng sinh lời của những dự án này lại không cao. Theo ông, cần có những chính sách gì để thu hút doanh nghiệp tham gia cải tạo xây dựng chung cư cũ?
Kiến trúc sư Đinh Đăng Hải: Câu hỏi này khá rộng, khá hay và cũng rất là khó trả lời. Trước hết, phải khẳng định rằng, không phải là dự án tái thiết đô thị nào cũng có khả năng sinh lời được. Bởi vì đô thị có rất nhiều khu vực khác nhau và không một nước nào, cũng như không có thành phố nào áp dụng một cơ chế giống hệt nhau cho tất cả các khu vực của đô thị. Vì vậy nếu chúng ta tối ưu hóa lợi nhuận của việc xây dựng lại các khu chung cư cho mọi khu vực thì rất khó.
Vì thế, Thành phố cần có những cơ chế linh hoạt để tạo điều kiện cho những khu vực hấp dẫn về mặt thương mại có thể phát triển thương mại, khu vực khác hấp dẫn về mặt cảnh quan hoặc về môi trường thì cũng phải đẩy mạnh thế mạnh của khu vực đó. Tức là không phải chỗ nào cũng mang lại lợi nhuận và chúng ta phải cân bằng nó thông qua những cơ chế chung của Thành phố.
Các nhà đầu tư nhân hoặc đầu tư ngoài Nhà nước có thể quan tâm nhiều đến vấn đề lợi nhuận, tuy nhiên để bù đắp lại thì Nhà nước phải phải có những cơ chế để đưa nguồn vốn công vào, để thực hiện những khu vực ít đem lại lợi ích về mặt kinh tế để tạo ra sự cân bằng sự phát triển của tất cả các khu vực.
Đặc biệt, Nhà nước cần đảm bảo rằng, khi mà các khu vực được tái thiết và được xây dựng lại thì chúng ta sẽ giải quyết được các vấn đề về giao thông, trường học, y tế hay không gian công cộng chứ không chỉ là lợi nhuận.
Để hấp dẫn các doanh nghiệp đầu tư, cần có môi trường đầu tư thuận lợi, các quy hoạch cần được thông báo một cách rõ ràng, các quy trình, thủ tục để đầu tư, kể cả những cơ chế hỗ trợ về thuế, về tài chính khác.
Tôi nghĩ rằng có rất nhiều doanh nghiệp, vấn đề e ngại của họ không phải là lợi nhuận thấp, mà là nếu chúng ta không có một môi trường rõ ràng để họ đầu tư và xác định được khoảng thời gian có thể hoàn thành, mà vì thủ tục kéo dài thì cũng là một rủi ro mà họ xem xét, chứ không chỉ là vấn đề lợi ích có thể tính được ngay trong một giai đoạn ngắn.
PV: Xin cảm ơn ông