Nhân Ngày Quốc tế Lao động (1/5), phóng viên Như Nguyên, Ban VOV Giao thông Quốc gia thực hiện phóng sự phân tích những giải pháp, cách làm hay để cải thiện hiệu suất lao động, tăng lương, giảm giờ làm.
Trong ngành may mặc, mức lương theo giờ phổ biến của một công nhân Việt Nam hiện dao động từ 29.000 đến 58.000 đồng/giờ. Lương tháng trung bình ước tính 6 triệu đồng đối với người mới vào nghề, 9 triệu đồng đối với lao động kỹ năng trung bình, 12 triệu đồng đối với người tay nghề cao.
Một số công nhân chia sẻ trăn trở về công việc và tiền lương:
"Tôi làm công nhân may được 2 năm, một ngày lao động tối đa hoàn thiện được 5 cái áo sơ . Do là loại bình thường nên tiền công cũng không được bao nhiêu, lương tháng cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống ở mức tối thiểu”.
“Một tháng chỉ riêng chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản thôi cũng gần hết lương rồi, chúng tôi lấy đầu ra để tích lũy nữa chưa kể nếu có công có việc gì nữa thì xoay sở cũng rất khó khăn”.
Một trong những thách thức với thị trường lao động Việt Nam là dần mất lợi thế nhân công giá rẻ, nếu so với một số nước như Bangladesh, Ấn Độ. Tuy nhiên, để vừa nâng cao phúc lợi, tiền lương, vừa đảm bảo lợi thế của các ngành hàng sản xuất, nước ta vẫn duy trì được ưu thế về mặt kỹ năng.
Theo các chuyên gia kinh tế, vấn đề này liên quan mật thiết đến điều kiện sản xuất, môi trường kinh doanh, hạ tầng công nghệ cũng như cơ chế chính sách.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt ở các khu công nghiệp, đã nhận thức rất rõ câu chuyện lao động phổ thông phần lớn là lao động nhập cư. Áp lực về chi phí thuê trọ, tiền điện nước, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, học tập gây áp lực tâm lý thường trực.
Một công nhân sống trong không gian chật hẹp, nóng bức, thiếu tiện nghi sẽ kéo giảm khả năng tái tạo sức lao động. Năng suất giảm đồng nghĩa chi phí sản xuất tính trên một đơn vị sản phẩm tăng, kéo theo giá trị của ngày công cũng giảm theo.
Trao đổi với VOV Giao thông, ông Bạch Thăng Long, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10 chia sẻ những giải pháp để nâng cao phúc lợi cho công nhân, đặc biệt giữa cơn “bão giá” nhiên liệu xăng dầu như hiện nay.
“Về chính sách công ty may 10 làm nhiều năm nay rồi nó có nhiều nội dung ví dụ trong lao động sản xuất có phụ cấp đi đủ ngày công, xăng xe và ngoài ra còn thêm mùa hè nắng nóng từ tháng 5 đến tháng 9 có phụ cấp nắng nóng, phụ cấp nhà ở”.
Theo bà Hoàng Khánh Ly – Trưởng phòng Truyền thông và Văn hóa Công ty Đồng Phục Hải Anh, doanh nghiệp đang hỗ trợ chi phí đi lại cho cán bộ, công nhân viên, đồng thời khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng để tiết giảm chi phí. Nhờ động thái này, người lao động cảm thấy được chăm lo và gắn bó hơn với cơ quan, công ty.
“Hiện nay, công ty đã triển khai một số chính sách hỗ trợ chi phí đi lại cho cán bộ, công nhân viên. Cụ thể, đối với nhân sự làm việc toàn thời gian, mức hỗ trợ là 500.000 đồng/người; còn nhân sự bán thời gian và thực tập sinh được hỗ trợ 200.000 đồng/người trong tháng 3… Bên cạnh đó, công ty cũng khuyến khích cán bộ, công nhân viên sử dụng các phương tiện giao thông công cộng để tiết giảm chi phí đi lại".
Bên cạnh đó, nhiều đơn vị còn hỗ trợ tiền ăn trưa, nhà trẻ cho con em người lao động. Ông Hoàng Xuân Nam, Chủ tịch Công đoàn Tổng Công ty may Hưng Yên, chia sẻ câu chuyện tại doanh nghiệp này: "Đối với Tổng Công ty của chúng tôi vẫn chăm lo tốt cho người lao động thông qua chính sách cụ thể như hỗ trợ xăng xe, các bữa cơm ca với mức chi phí từ 18 đến 22 nghìn đồng. Đồng thời công ty cũng duy trì trường mầm non ễn phí toàn bộ học phí cho con em của người lao động”.
Cùng với nhận thức của doanh nghiệp về phúc lợi, ứng dụng công nghệ tăng năng suất người lao động, một số chuyên gia cũng đề cập thêm về môi trường kinh doanh.
Tiến sĩ Mạc Quốc Anh, Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển Doanh nghiệp, nhận định: Tăng năng suất lao động, việc đầu tiên cần tiết giảm chi phí tuân thủ của các doanh nghiệp. Giải pháp liên quan thể chế, chính sách, môi trường kinh doanh nh bạch, sự bình đẳng giữa các mô hình sản xuất thể hiện qua các Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học và chuyển đổi số, Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước gần đây của Bộ Chính trị:
“Trong Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, khu vực kinh tế tư nhân có gần 1 triệu doanh nghiệp, hơn 5 triệu hộ kinh doanh và đóng góp hơn 50% GDP, sử dụng lực lượng lao động lên đến 82%. Điều đó có nghĩa là môi trường kinh doanh của khu vực tư nhân mà được cải thiện, tác động không chỉ có doanh nghiệp còn lan tỏa thu nhập việc làm đến hàng triệu lao động.
Số liệu năng suất lao động cho thấy dư địa cải cách này rất lớn. Cúng ta thấy là tạo môi trường kinh doanh thuận lợi chính là tạo ra đường băng thể chế để doanh nghiệp tăng năng suất”.
Tiến sĩ Mạc Quốc Anh nói thêm: Việt Nam cũng cần thực hiện các nhóm giải pháp như nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục nghề nghiệp với nhu cầu thực tiễn của thị trường cũng như doanh nghiệp, nhằm khắc phục tình trạng sinh viên ra trường thiếu kỹ năng thực hành.
Tiếp theo đó là nhóm giải pháp về chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thế hệ mới, tự động hóa trong sản xuất để thay đổi phương thức tạo ra giá trị cao hơn.
“Trong thời gian vừa qua thì việc đào tạo đặc biệt về kỹ năng như sử dụng công nghệ, kỹ năng mềm, thuyết trình, thuyết phục các kỹ được các trường phối kết hợp chặt chẽ với các tổ chức tuyển dụng thì việc này đang được triển khai rất tốt nên tại sao khi người ta ra trường tìm được công việc với mức lương tưng xứng”.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Phạm Ngọc Toàn – Giám đốc trung tâm thông tin và dự báo chiến lược, Viện Khoa học Lao động và xã hội đánh giá: Cải cách chính sách tiền lương dựa trên hiệu quả công việc cũng là giải pháp khuyến khích tăng năng suất với người lao động.
“Bây giờ chúng ta phải thay đổi lại vấn đề về tiền lương thu nhập, nghĩa là phải coi tiền lương thu nhập là động lực tăng năng suất lao động cá nhân còn trước kia chúng ta coi nhân công thấp, giá rẻ là lợi thế thu hút đầu tư vì thế chúng ta cũng nên suy nghĩ lại, coi đó như là động lực để tăng năng suất”.
Việc chuyển dịch từ mô hình nhân công giá rẻ sang lực lượng lao động chất lượng cao thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chính phủ. Sự thay đổi này là điểm mấu chốt để Việt Nam hạn chế những ngành gia công thâm dụng lao động, chuyển sang mức độ cao hơn của chuỗi giá trị toàn cầu.
Khi giá trị chất xám thay thế cho lợi thế về chi phí thấp cũng là lúc người lao động Việt Nam thụ hưởng thành quả phát triển một cách xứng đáng.
Cùng với đó, những thay đổi cách tiếp cận, quan tâm chăm lo đời sống cho công nhân một cách thực chất, hỗ trợ trong bối cảnh kinh tế biến động từ phía doanh nghiệp cũng đang là điểm sáng. Điều này giúp “Tăng lương, giảm giờ làm” không chỉ là mục tiêu mà có thể là hiện thực, góp phần nâng cao chất lượng, năng suất của lực lượng lao động.