Ký ức cầu quay Khánh Hội, dấu xưa bên dòng nước lớn

Nằm ngay ngã ba kiêu hãnh nơi rạch Bến Nghé đổ vào lòng sông Sài Gòn, cầu Khánh Hội như một nét gạch nối mềm mại bắt qua hai thế giới: một bên là bến Bạch Đằng lộng lẫy với những tòa nhà hoa lệ, một bên là vùng đất Khánh Hội từng một thời lam lũ gồng gánh những phận người mưu sinh.

Nếu phải tìm một nơi để ngắm nhìn trọn vẹn vẻ đẹp "bên bồi, bên lở" của lịch sử Sài Gòn, có lẽ không đâu thích hợp hơn đỉnh cầu Khánh Hội. Nằm ngay ngã ba kiêu hãnh nơi rạch Bến Nghé đổ vào lòng sông Sài Gòn, cây cầu như một nét gạch nối mềm mại bắt qua hai thế giới: một bên là bến Bạch Đằng lộng lẫy với những tòa nhà hoa lệ, một bên là vùng đất Khánh Hội từng một thời lam lũ gồng gánh những phận người mưu sinh theo tiếng còi tàu.

Trải qua bao thăng trầm với những lần đập đi, xây lại, cầu Khánh Hội hôm nay không chỉ là một mạch máu giao thông hiện đại, mà còn là một chứng nhân thầm lặng, lưu giữ trọn vẹn những mảnh vỡ ký ức của một đô thị sông nước bước qua thăng trầm thế kỷ.

  

Cầu Khánh Hội xưa

Ngược dòng lịch sử về những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp bắt đầu quy hoạch Sài Gòn thành một đô thị cảng tầm cỡ khu vực, nhu cầu kết nối trung tâm hành chính (Quận nhất cũ) với vùng đất cù lao Khánh Hội (Quận 4 cũ) trở nên vô cùng cấp thiết. Cù lao Khánh Hội khi ấy là nơi đặt Thương cảng Sài Gòn, đầu mối giao thương hàng hải huyết mạch đón nhận các tàu buôn quốc tế và những đoàn thuyền ghe từ khắp Nam Kỳ lục tỉnh đổ về.

Để giải quyết bài toán vừa đảm bảo giao thông đường bộ nối hai bờ, vừa không làm nghẽn mạch giao thương thủy của kênh Bến Nghé – nơi tập trung đô hội tàu bè vào chợ Bến Thành và Chợ Lớn, người Pháp đã cho xây dựng một công trình độc nhất vô nhị lúc bấy giờ. Năm 1904, cây cầu đầu tiên chính thức khánh thành. Người Pháp gọi nó là Le pont tournant, nhưng người dân bản địa bằng sự mộc mạc và trực giác của mình đã định danh cho nó một cái tên đi vào huyền thoại: Cầu quay Khánh Hội.

Điểm đặc sắc nhất của cầu Khánh Hội chính là kết cấu nhịp giữa có thể quay ngang. Vào những khung giờ cố định trong ngày, hệ thống bánh răng cơ khí sẽ khởi động, xoay toàn bộ nhịp giữa của cây cầu một góc 90 độ, nằm song song với dòng chảy để mở toang lòng kênh cho những chiếc tàu buôn cao cột buồm, những chiếc ghe bầu tải trọng lớn dễ dàng qua lại. Do sở hữu cơ chế linh hoạt này, cầu Khánh Hội thời kỳ đầu được thiết kế thấp hơn hẳn so với những cây cầu cố định khác trên dòng Bến Nghé như cầu Ông Lãnh hay cầu Chữ Y, tạo nên một khoảng mở khoáng đạt ngay sát Bến Nhà Rồng.

Với kinh nghiệm hướng dẫn và chia sẻ kiến thức lịch sử đô thị Sài Gòn cho du khách, Anh Nguyễn Tấn Khiêm, chuyên viên Thiết kế Trải nghiệm du lịch và hướng dẫn viên tại công ty Vang Vọng Trống Chầu, cho biết: "Cầu Khánh Hội ban đầu là cầu quay, trục ở giữa cố định, hai bên bờ có nhịp cầu để cố định, ở giữa có trục để xoay, xoay 90 độ để thuyền có thể đi từ sông Sài Gòn vào rạch Bến Nghé và ngược lại".

Khoảnh khắc cây cầu "chuyển mình" ấy không chỉ là một hiện tượng kỹ thuật kỳ thú, mà theo thời gian, nó đã hòa vào nhịp sinh học của người dân phố thị. Tiếng xích sắt loảng xoảng, tiếng còi tàu hú vang trầm đục vang vọng cả một khúc sông đã trở thành một phần ký ức thanh âm không thể nào bôi xóa. Cây cầu quay đi quay lại như một nhịp thở đều đặn của phố cảng, tự nhiên bước vào ca dao:

"Chừng nào cầu quây nọ thôi quây/ Thì qua với bậu mới dứt dây cương thường.”

Tuy nhiên, "tuổi thọ" những vòng quay của cầu Khánh Hội chỉ kéo dài được vài thập niên. Đến khoảng những năm 1940, để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa với khối lượng lớn hơn từ cảng vào trung tâm, một tuyến đường sắt đã được lắp đặt chạy trực tiếp qua cầu. Để đảm bảo an toàn cho đường ray, cơ chế xoay của cầu Khánh Hội bị khóa chặt, cây cầu quay độc nhất của Sài Gòn chính thức "thôi quay", trở thành một cây cầu cố định.

Anh Nguyễn Tấn Khiêm, chuyên viên Thiết kế Trải nghiệm du lịch và hướng dẫn viên tại công ty Vang Vọng Trống Chầu, chia sẻ thêm: "Cơ chế cầu quay này chỉ tồn tại 30 năm đến 40 năm vì gây nhiều vấn đề tranh cãi trong xã hội. Người ta nói khi xây trụ phía giữa, rồi thêm 2 nhịp cầu cố định ở 2 bên làm thu hẹp dòng chảy, thu hẹp diện tích những thương thuyền đi qua an toàn.

Còn khi ở vị trí bình thường cho những phương tiện đi bộ qua lại thì khá là rung lắc nên thập niên 30, 40, người Pháp sau khi đào kênh Tẻ thì xác định nó là giao thông thủy chủ yếu đi từ sông Sài Gòn vào vào phía rạch Bến Nghé, Tàu Hũ để kết nối với Chợ Lớn.

Lúc này, cầu quay không còn chức năng của nó nữa nên để họ cố định luôn và xây thêm một số công năng trên đó, như là có thêm đường ray để cho kết nối với tuyến đường sắt thời đó".

Đến năm 1954, khi tấm áo sắt thép thời thuộc địa đã quá chật chội và xuống cấp trước áp lực của những dòng xe cộ ngày một đông đúc, cây cầu quay nguyên bản bị tháo dỡ để nhường chỗ cho một cây cầu bê tông cốt thép kiên cố. Dù nhịp xoay huyền thoại đã vĩnh viễn khép lại, nhưng cái tên "cầu quay" thì vẫn sống bền bỉ trong tâm thức người dân, như một chứng tích về một thời vàng son “kỳ quan” của sông nước.

Nếu như phía bên kia cầu (trung tâm Sài Gòn) là biểu tượng của sự phồn hoa, đại diện cho tầng lớp thượng lưu với những dinh thự và đại lộ rợp bóng cây, thì phía bên này cầu – vùng đất Khánh Hội – lại là một thế giới hoàn toàn khác. Nơi đây từ thế kỷ XIX đến trước năm 1975 là nơi tụ cư của những người lao động tứ xứ, những phu khuân vác bến cảng, công nhân hãng tàu Ba Son và khách thương hồ không nhà cửa.

Họ dựng lên những xóm nhà ổ chuột lụp xụp, san sát nhau trên những bãi sình lầy bên rạch Bến Nghé và Kênh Tẻ. Không chỉ có những người lao động lam lũ, không gian gầm cầu và những con hẻm sâu hút còn là "thánh địa" của các băng nhóm du đãng, giang hồ khét tiếng một thời.

Chính sự đối lập gay gắt giữa hai bờ đầu cầu đã tạo điểm đặc biệt cho cầu Khánh Hội. Nó không chỉ là một công trình giao thông, nó còn là một chiếc đòn gánh bắt qua hai thế giới: một bên là phồn hoa đô hội, một bên là lao động nhọc nhằn. Cây cầu đã dang tay ôm lấy cả những giọt mồ hôi mặn chát của phu phen lẫn những cuộc đời bên lề xã hội qua nhiều thế hệ để chờ ngày chuyển mình, đổi đời....

Cầu Khánh Hội ngày nay. (Ảnh: PLO)

Bước vào thế kỷ XXI, Sài Gòn phát triển mạnh mẽ trong làn sóng hội nhập. Năm 2006, để phục vụ cho dự án hạ tầng thế kỷ – Đại lộ Đông - Tây và đường hầm vượt sông Sài Gòn (hầm Thủ Thiêm), cây cầu bê tông cũ lại một lần nữa được tháo dỡ.

Năm 2009, cầu Khánh Hội mới chính thức khánh thành và thông xe. Cây cầu mới dài gần 167m, rộng 22m với 4 làn xe khang trang. Điểm đặc biệt là cầu được thiết kế uốn cong mềm mại, cách điệu, kết nối trực tiếp đường Nguyễn Tất Thành (quận tư cũ) sang đường Tôn Đức Thắng (quận nhất cũ) dọc theo Bến Bạch Đằng.

Ngày nay, cầu Khánh Hội được vinh danh là một trong 11 cây cầu trọng yếu trên toàn tuyến Đại lộ Đông - Tây – tuyến đường di sản và hiện đại bậc nhất thành phố. Đứng trên đỉnh cầu Khánh Hội hôm nay, phóng tầm mắt ra xa, người ta thấy một bức tranh đô thị cực kỳ lộng lẫy: bên cạnh là Bến Nhà Rồng thâm nghiêm cổ kính, trước mặt là bến Bạch Đằng lung linh ánh đèn và những tòa nhà chọc trời soi bóng xuống dòng sông Sài Gòn. Vùng đất “dữ” ngày xưa giờ đã chuyển mình thành những khu căn hộ cao cấp, những con phố ẩm thực sầm uất.

Bà Huỳnh Ba, đã sống hơn nửa đời người ở vùng đất Khánh Hội, cảm nhận: "Tôi thường đi dạo từ nhà qua cầu Khánh Hội để ra Bến Bạch Đằng hóng gió, tập thể dục. Đứng trên cầu là ngã ba sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé, khung cảnh sông nước mênh mông, người người nhộn nhịp, tàu bè qua lại, thoáng mát lắm".

Dưới những nhịp cầu Khánh Hội hôm nay, ít ai còn hình dung nơi đây từng có chiếc cầu quay mở lối cho những con tàu viễn dương, từng chứng kiến nhịp sống sôi động của thương cảng Sài Gòn hơn một thế kỷ trước. Hình hài cũ đã thay đổi, nhưng ký ức về cây cầu vẫn hiện diện trong những trang tư liệu, những bức ảnh xưa và trong câu chuyện của những người từng gắn bó với vùng đất Khánh Hội. Có lẽ, giá trị lớn nhất của cây cầu không chỉ nằm ở việc nối hai bờ sông, mà còn ở khả năng kết nối quá khứ với hiện tại, để mỗi bước chân đi qua đều nhắc nhớ rằng thành phố hôm nay được bồi đắp từ biết bao lớp ký ức và những công trình đã âm thầm đồng hành cùng thời gian.

SỐNG Ở SÀI GÒN: Sài Gòn và những hàng me xanh

Sài Gòn - TP.HCM có nhiều điều để nhớ, để thương và để hoài niệm. Nhưng với không ít người, ký ức lại bắt đầu bằng những hàng me xanh trải dài trên khắp những con đường quen. Dưới tán cây rì rào trong nắng sớm, nhịp sống thành phố dường như chậm lại đôi chút, đủ để người ta cảm nhận vẻ dịu dàng rất riêng của Sài Gòn.

Những hàng me không chỉ che mát phố phường mà còn lưu giữ biết bao kỷ niệm, trở thành một phần ký ức thân thương của nhiều thế hệ.

Con đường rợp bóng me xanh trên đường Phùng Khắc Khoan

Sài Gòn - TP.HCM với nhiều người, đó không chỉ là một địa danh, mà còn là một phần của tuổi trẻ. Tôi lên TP.HCM học tập rồi ở lại làm việc đến nay cũng đã tròn 12 năm. 12 năm không quá dài so với cuộc đời một con người, nhưng cũng đủ để thành phố này trở thành 1 phần ký ức, nếu mai này rời xa chắc sẽ nhớ nơi này lắm.

Nhớ mỗi sáng thức dậy, nghe tiếng xe cộ ngoài đường, nhìn dòng người tất bật, đủ để tôi biết mình vẫn đang ở nơi đã ôm lấy biết bao ước mơ của tuổi trẻ.

Người ta thường nhớ về TP.HCM bằng những tòa nhà cao tầng, những con phố không ngủ, những quán cà phê góc nhỏ hay chỉ đơn giản là cơn mưa chợt đến vội đi. Còn tôi, mỗi khi nghĩ về thành phố này, điều hiện lên đầu tiên lại là những hàng me xanh. Có lẽ chẳng nơi nào những hàng me lại trở thành một phần ký ức tự nhiên đến thế. Chúng đứng lặng lẽ dọc theo những con đường quen thuộc, không phô trương, không ồn ào, chỉ âm thầm che mát từng bước chân người qua lại.

Có những buổi sáng lái xe đến cơ quan, ánh nắng len qua từng tán lá, những đốm sáng nhảy múa trên mặt đường. Gió khẽ lay, lá me rung rinh, tạo nên thứ âm thanh rất nhỏ nhưng đủ làm lòng người dịu lại giữa nhịp sống hối hả. Bất giác, tôi giảm ga, đi chậm hơn một chút. Không phải vì vội vàng đã hết, mà vì muốn giữ lại khoảnh khắc bình yên ấy thêm vài giây nữa. Sài Gòn là thành phố của những bước chân nhanh. Nhưng cũng chính dưới những hàng me ấy, người ta lại tìm được khoảng lặng hiếm hoi cho riêng mình.

Nguyễn Du, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Lý Tự Trọng, Lê Thánh Tôn . . . bao thế hệ đã đi qua những con đường ấy. Có người lần đầu đến thành phố với chiếc ba lô còn mới, đầy hy vọng. Có người đã lập nghiệp, dựng xây gia đình.

Có người rời đi, nhưng ký ức về Sài Gòn vẫn còn nguyên trong từng hàng cây, từng góc phố. Những hàng me dường như chứng kiến tất cả. Chúng thấy thành phố lớn lên từng ngày, thấy những con đường đổi khác, thấy những dòng xe ngày một đông hơn. Nhưng điều kỳ lạ là mỗi mùa lá xanh trở lại, người ta vẫn nhận ra Sài Gòn của mình không hề mất đi sự dịu dàng vốn có.

12 năm sống ở Sài Gòn, tôi đã đi qua không biết bao nhiêu con đường góc hẻm. Có con đường giờ đã khác xưa, có góc phố đã đổi thay theo nhịp phát triển của thành phố. Nhưng điều khiến tôi xúc động nhất vẫn là những hàng me còn đó.

Chúng như những người bạn cũ, lặng lẽ chờ đợi, không cần ai nhớ đến, nhưng chỉ cần bắt gặp là ký ức lại ùa về. Có lẽ vì thế mà mỗi khi có dịp, tôi lại thích thong dong chạy xe qua những con đường rợp bóng me. Không cần đi đâu thật xa, cũng chẳng cần tìm điều gì đặc biệt. Chỉ đơn giản là để cảm nhận thành phố bằng một nhịp chậm hơn.

Để nghe tiếng lá xào xạc, để hít một hơi thật sâu mùi nắng quyện với màu xanh của cây lá, để thấy TP.HCM vẫn luôn có những khoảng bình yên giữa dòng chảy không ngừng của cuộc sống.

Người ta vẫn thường nói, một thành phố đáng nhớ không chỉ vì những công trình lớn hay những con đường rộng, mà còn bởi những điều rất đỗi bình thường khiến trái tim ta rung động. Với tôi, những hàng me xanh chính là một điều bình thường đẹp đẽ như thế.

Nếu một ngày nào đó phải rời xa nơi này có lẽ điều khiến tôi nhớ nhất sẽ không phải là những tòa nhà cao hay những đại lộ đông xe. Mà sẽ là cảm giác được đi dưới những tán me vào một buổi sáng trong veo, khi nắng vừa thức giấc, gió khẽ lùa qua kẽ lá, và cả thành phố như dịu dàng hơn một chút.

Sài Gòn - TP.HCM vẫn luôn rộng mở. Và biết đâu, chính những hàng me xanh ấy đã âm thầm níu giữ biết bao người ở lại. Bởi giữa một thành phố luôn chuyển động, vẫn có những khoảng xanh đủ để trái tim tìm thấy bình yên. Và với nhiều người, trong đó có tôi, đó chính là một Sài Gòn rất đỗi thân thương, rất đỗi để nhớ... để thương.