Mùi hương ấy không chỉ theo những bông hoa đi vào ấm trà của người Hà Nội, mà còn lưu giữ ký ức của những người đã dành cả cuộc đời để trồng sen, ướp trà và gìn giữ một làng nghề đã đi cùng Hồ Tây qua bao đổi thay…
Hồ Tây luôn thức dậy trước thành phố. Khi những con đường quanh hồ còn thưa bóng người, trên mặt nước đã có những con thuyền lặng lẽ đi tìm những bông sen vừa kịp hé.
Người làm nghề bảo rằng, muốn giữ được hương sen, phải hái trước khi mặt trời lên. Có lẽ vì thế mà hương sen Hồ Tây luôn gắn với buổi sớm. Và cũng từ mùi hương ấy, ký ức của nhiều người về Hồ Tây lại bắt đầu:
"Mỗi mùa sen nở rộ mà có những bông sen to như bát con, thơm nức. Tôi nhớ nhất những năm chúng tôi thầu mà mang xuống Hà Nội bán, đánh đống to như một đống rơm ở cửa chợ Đồng Xuân.
Sau đó tất cả bà con xã viên ngồi làm gạo để mang đi bán, còn vỏ hoa mang ra Cửa Nam bán để cho người ta làm vòng hoa. Nhiều đến mức độ mà chúng tôi không thể tưởng tượng nổi. Mỗi một người đi hai ba chuyến từ nhà xuống cửa chợ Đồng Xuân bỏ đấy, đánh đống ở đấy để làm. Những năm ấy nhiều hoa lắm, hoa thơm mà thích lắm".
Ở tuổi tám mươi, ông Xiêm vẫn nhớ như in những mùa sen của tuổi trẻ. Nhớ những chuyến xe đạp chở đầy hoa từ Quảng An xuống chợ Đồng Xuân. Nhớ cả một mặt hồ đỏ rực mỗi độ đầu hạ. Đó là ký ức của một Hồ Tây rất khác hôm nay:
"Ngày xưa, nước hồ Tây rất sạch, chúng tôi đi lấy hoa nhiều khi khát nước còn lấy tay vục nước ở dưới hồ lên để uống. Bây giờ không còn cảnh đó nữa. Tất cả xung quanh hồ Tây hầu như hết hoa. Hoa có lên đi chăng nữa thì rất ít . Ngày xưa hoa như cắm chông đỏ rực ra.
Bây giờ không còn cảnh đó nữa rồi. Chỉ có một ít lá lên, lác đác vài bông hoa trông thưa thớt. Nguyên nhân là do nước ô nhiễm và thứ hai là hoa sen sinh ra nhiều bệnh làm cho cây sen kém phát triển, bông hoa không được to, không được thơm như ngày xưa. Bây giờ hồ bị lấp đi hết, hết khu vực trồng hoa rồi".
Ký ức ấy không chỉ còn trong lời kể của ông Xiêm. Với những người vẫn đang sống cùng Hồ Tây, sự đổi thay ấy hiện diện trong từng mùa sen.
Hơn năm mươi năm nay, cứ đến mùa sen, bà Lưu Thị Hiền lại bắt đầu những ngày bận rộn nhất trong năm. Với bà, làm trà sen không chỉ là một nghề, mà còn là nghề của gia đình, của làng Quảng An. Người làm trà bảo rằng, hương sen Hồ Tây có được từ chính đất và nước nơi này. Cùng một giống sen ấy, mang đi nơi khác trồng, hương thơm vẫn không thể tròn đầy như ở Hồ Tây:
"Không ở đâu có hương vị bông hoa thơm như ở Hồ Tây. Nó đã được các cụ từ xưa bao giờ chọn nó là điểm duy nhất để có hương nhiều nhất cho những người làm trà, mà không nơi nào có được".
Nhưng để giữ được hương sen ấy, những người làm nghề hôm nay phải vất vả hơn trước. Nguồn hoa không còn dồi dào như những năm cũ. Đầm Trị - nơi từng là nguồn sen lớn của Quảng An - cũng đã thay đổi:
"Tôi thấy chúng tôi làm trà sen của năm nay đã rất vất vả rồi khi nguồn cung cấp không còn nữa, những người làm trà như tôi phải bươn chải với sức của mình để tìm được nguồn làm đảm bảo nghề truyền thống của làng".
Không chỉ người làm trà. Người trồng sen cũng cảm nhận rất rõ sự đổi thay của mặt hồ.
Gần bốn mươi năm gắn bó với Hồ Tây, ông Nguyễn Đức Chung hiểu từng lối nước, từng mùa hoa. Nhưng ông bảo, sen hôm nay đã khác:
"Thật ra ngày xưa không chăm sóc nhiều đâu. Nhưng bây giờ nguồn nước xấu hơn, không như ngày xưa. Nguồn nước bây giờ có những loại bệnh mà mình phải diệt trừ các loại bệnh nên cũng vất vả".
Ngày trước, người trồng sen chỉ mong đúng vụ. Bây giờ, họ còn phải giữ từng mầm cây, từng khoảng nước để sen có thể nở đúng mùa. Vất vả hơn. Nhưng chưa ai nghĩ đến chuyện bỏ nghề:
"Mình làm vẫn làm thôi, chứ mình không thể bỏ nghề được, mình chọn điểm duy trì làm sao có sen trồng được, làm sao cho ra hương sen thơm ngon nhất thì làm thôi".
Giữ nghề cũng có nghĩa là chấp nhận thay đổi. Để hương sen vẫn có thể đi cùng cuộc sống hôm nay:
"Xưa, các cụ lấy gạo ướp trà sấy bằng hơi nước nhưng sau theo thị hiếu khách hàng, trà được cho vào từng bông một để ướp. Sen ướp trà người ta không sấy bằng hơi nước nữa mà sấy bằng máy móc, chứ không như trước nữa.
Bây giờ khi ướp từng bông trà một, ướp lạnh thì bây giờ lại phát triển mang đi sấy khô để theo thị hiếu của khách hàng để bảo quản cho dễ. Hương vị cũng không thay đổi đâu".
Cách làm có thể khác. Nhưng điều những người làm nghề muốn giữ lại vẫn là hương sen Hồ Tây. Đó cũng là lý do, dù nhiều đầm sen đã thu hẹp, họ vẫn mang giống sen đi gây trồng ở nơi khác để gìn giữ. Chỉ mong mỗi mùa hạ, người ta vẫn còn nhớ đến Hồ Tây bằng mùi hương quen thuộc ấy:
"Chỉ mong có hồ sen để người ta nhớ đến… Mình mong mọi người biết đến để lưu truyền nghề truyền thống sen hồ Tây, mỗi nơi đều có một di sản, mình phải phát huy lưu giữ, đừng để mai một đi".
Mỗi thành phố đều có một cách để người ta nhớ. Với Hà Nội, đó có thể là mùi hoa sữa của mùa thu. Là hương cốm mới khi heo may vừa chạm ngõ. Và cũng là hương sen mỗi độ đầu hạ trên Hồ Tây.
Có những đầm sen đã thu hẹp. Có những mùa hoa không còn rực rỡ như trong ký ức. Nhưng mỗi đầu hạ, khi những con thuyền vẫn lặng lẽ rời bến trước lúc bình nh, khi những người làm nghề vẫn nâng niu từng bông sen còn đẫm sương...
Hồ Tây vẫn đang kể câu chuyện của mình. Bằng hương sen. Và bằng những con người chưa bao giờ rời bỏ mặt hồ ấy…