Nơi núi kể chuyện
Nơi đó, thiên nhiên có phần khắc nghiệt, nắng gió nhiều hơn phù sa, nhưng lại ẩn chứa biết bao điều kỳ diệu. “Chu Du 3260” đã có khoảng thời gian tuyệt vời trong những ngày lưu lại vùng đất này. Đến với Bảy Núi, không chỉ là chuyến đi qua một vùng đất, mà còn là dịp để ghé vào những mái nhà đơn sơ, ngồi bên hiên nghe chuyện núi rừng và cảm nhận cái tình của bà con bản xứ.
Dưới chân “Bảy ngọn núi thiêng” của vùng Thất Sơn, mỗi buổi sáng dường như đến chậm hơn. Khi mặt trời còn chưa kịp vượt qua những vách núi đá sẫm màu, sương sớm đã phủ mỏng lên những hàng thốt nốt.
Hôm nay, chị Neàng Chanh Đa Ty – Chủ nhiệm Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo (xã An Cư) đã thức dậy từ sớm để đón chúng tôi. Dù bây giờ xe hơi đã có thể chạy thẳng vào tận nhà, nhưng chúng tôi vẫn chọn ngồi lên chiếc xe bò lộc cộc. Không phải vì không có lựa chọn khác mà vì muốn thử cảm giác của một thời cũ, cái thời mà người dân nơi này đi lại, chở hàng, mưu sinh cùng tiếng lộc cộc chậm rãi trên đường đất. Ngồi trên xe, gió thổi ngang mặt, bụi đường bám nhẹ lên áo, không vội vàng như những ngày ở phố thị.
Ông Châu Som, người đánh xe bò cho biết: “Con bò này người ền núi xài nhiều lắm, nó đi đường nào cũng được, đường lộ, đường ruộng,… đi đâu cũng được”.
Đi ngang ấp Cà Hom (xã An Cư), cắt qua những con đường ngoằn ngoèo dưới chân núi lớn là dãy ruộng nhỏ xen lẫn hàng cây thốt nốt vươn lên trời thẳng tắp. Thốt nốt là loài cây được xem như biểu tượng sống của Bảy Núi, bám rễ từ chân núi, lan ra tận đồng ruộng, gắn chặt với đời sống của người Khmer và người Kinh qua nhiều thế hệ. Chúng tôi dừng lại một quán nhỏ ven đường, trải nghiệm cách làm thốt nốt của người dân bản xứ.
Đường thốt nốt nấu từ mật hoa cây thốt nốt, mỗi cây phải tích luỹ “nội lực” trong quãng đời 30 năm mới “trổ mã” cho mật quanh năm. Mỗi ngày “phu mật” trèo lên cây cắt vòi hoa hứng mật, sau đó đem về lọc sạch tạp chất, đổ vô chảo lớn, nấu liên tục từ 3 đến 4 giờ.
Ðường thốt nốt được chế biến thành ba loại: đường phèn, đường tán và đường chảy. Trong ngành hàng đường, đường thốt nốt thuộc phẩm cấp cao với sắc vàng óng ánh, vị ngọt thanh, hương thơm dịu nhẹ, rất ngon vì nguyên liệu hội tụ đầy đủ tinh hoa do thiên nhiên hậu thuẫn.
Bà Thạch Thị Sang chỉ chúng tôi cách nấu đường: “Trong lúc khuấy, sợ đường trào ra ngoài nên mình cứ phải khuấy đều cho đường hạ xuống. Khi mùi hương bốc lên là biết đường đã đạt yêu cầu, nhắc xuống khuấy đều rồi đổ vô khuôn. Nấu 4 nồi, nấu sôi cho đường sắc xuống thì múc từ nồi này đổ qua nồi khác. Nước thốt nốt lấy về tiếp tục đổ vô mẻ mới nấu liên tục”.
Hương sắc núi đồi
Rời ấp Cà Hom với lỉnh khỉnh những cây đường thốt nốt còn thơm mùi khói quê, chúng tôi tiếp tục hành trình về ấp Srây Skốt (xã An Cư). Con đường nhỏ dẫn vào làng dệt như chậm lại giữa không gian yên bình của vùng Bảy Núi, từ xa, tiếng khung cửi đã vang lên lách cách, đều đặn như nhịp thở của làng nghề bao đời nay.
Chị Neàng Chanh Đa Ty – Chủ nhiệm Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo dẫn chúng tôi vào xưởng dệt, nơi những khung cửi vẫn đều đặn ngân lên âm thanh của một nghề xưa chưa bao giờ tắt:
“Nghề truyền thống này ở phum, sóc của chúng tôi được ông bà truyền dạy lại, đời của tôi là đời thứ 4. Mình dệt loại vải này dùng để đi đám tiệc, lễ hội lớn hay kết thông gia cưới gả con cháu trong nhà. Đối với dân tộc tôi, mặc thổ cẩm này lên đẹp lắm và nó dệt thủ công bằng tay nên chất lượng lắm”.
Trong căn nhà dệt, những đôi tay thoăn thoắt luồn sợi, đưa thoi. Từng đường chỉ nhiều màu sắc dần hiện lên thành hoa văn tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa Khmer Nam Bộ. Hiện làng nghề có 25 thợ dệt hoa văn, 118 thợ dệt các sản phẩm đơn giản, cùng 2 nghệ nhân và 1 thợ giỏi vẫn ngày ngày ệt mài gìn giữ kỹ thuật truyền thống.
Ở làng nghề Văn Giáo (xã An Cư), nghề dệt không chỉ là sinh kế mà còn là không gian lưu giữ ký ức cộng đồng. Mỗi tấm vải không đơn thuần là sản phẩm, mà là một câu chuyện được kể bằng sợi chỉ và màu nhuộm.
Văn hóa ẩm thực ở Bảy Núi cũng khá “huyền bí” xuất phát từ đặc trưng địa lý. Bảy Núi là khu vực đồi núi và những cánh đồng, người dân tận dụng để nuôi bò, nuôi gà. Hai nguyên liệu chính để chế biến cho bữa ăn hàng ngày ở đây là từ thịt bò và thịt gà.
Chau Sóc Nương – ông chủ quán Tà Pạ Cốc, xã Tri Tôn cho biết:
“Những món được đưa vào thực đơn đều những món mang hương vị đặc trưng của người Khmer, gồm: Gà đốt, bò nhúng lá chúc. Bò nuôi ở Tri Tôn được ăn những ngọn cỏ, cây thuốc xung quanh chân núi nên thịt bò thoang thoảng mùi hương thảo dược.
Gà đốt cũng ngon, trong gia vị tẩm ướp gà thì vị của lá trúc là không thể thiếu, lót sả dưới đáy nồi và sử dụng một ít dầu để tạo sức nóng làm cho gà nó chín đều hơn, màu đẹp mà vẫn giữ được độ ngọt và thịt mềm. Điều đặc biệt, gà đốt ở đây có gia vị thấm vô từng cọng xương, khi mình ăn tới xương thì gia vị đọng trong đó và da gà rất giòn”.
Trong ánh nắng đã lên cao trên triền núi, Thất Sơn không chỉ là vùng đất của huyền tích và thiên nhiên kỳ vĩ, mà còn là nơi cuộc sống đang tiếp diễn mỗi ngày, chậm rãi, bền bỉ và giàu bản sắc. Dưới chân núi ấy, con người vẫn giữ nghề, giữ văn hóa và giữ cả nhịp sống của một vùng đất vừa thực, vừa mơ.