Hạ Mỗ – Nơi thời gian còn đọng lại

Có những miền quê không chỉ lưu giữ dấu tích của lịch sử, mà còn gìn giữ cả nếp nghĩ, cách sống và cốt cách của người Việt qua bao thế hệ. Hạ Mỗ, vùng đất cổ bên dòng chảy văn minh sông Hồng, là một nơi như thế.

Trong tiếng chuông chùa ngân vang, dưới mái đình rêu phong và giữa những câu chuyện được truyền từ đời này sang đời khác, ký ức về một vùng đất nghìn năm vẫn đang âm thầm hiện diện trong đời sống hôm nay…

Khi bình nh vừa chạm ngõ làng quê Bắc Bộ, Hạ Mỗ thức dậy trong tiếng chim gọi ngày mới. Nằm trên vùng đất cổ Ô Diên – một trong những cái nôi hình thành văn nh đồng bằng Bắc Bộ – ngôi làng nhỏ ấy giống như một cuốn biên niên sử sống, nơi mỗi mái ngói, gốc cây, mỗi công trình cổ kính đều lưu giữ những lớp ký ức của thời gian.

Ở Hạ Mỗ, lịch sử không nằm yên trong sách vở. Lịch sử hiện diện trong đời sống thường ngày, trong những câu chuyện người già kể cho con cháu, trong lễ hội làng, trong tiếng trống đình mỗi độ xuân về.

Hạ Mỗ có bề dày truyền thống lịch sử, nhiều di tích và danh thắng độc đáo (Ảnh: laodongthudo)

Giữa trung tâm làng cổ, đình Vạn Xuân sừng sững như một cột mốc văn hóa của vùng đất Ô Diên. Ngôi đình thờ Hy Minh Dũng Nghị Đại vương – Lý Bát Lang, người con thứ sáu của Hậu Nam Đế Lý Phật Tử.

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, đình vẫn giữ được dáng vẻ uy nghiêm với kiến trúc "nội vương ngoại quốc" độc đáo, mười nếp nhà liên hoàn quần tụ trên thế đất cao, như một biểu tượng cho sự trường tồn của làng quê Việt.

Những chi tiết kiến trúc nơi đây không đơn thuần là sự sáng tạo nghệ thuật của cha ông, mà còn gửi gắm những câu chuyện về một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Trong ký ức của người dân địa phương, bốn con cóc đặt trên mái đình vẫn mang theo một truyền thuyết đặc biệt.

Ông Nguyễn Xuân Việt, chuyên viên Phòng Văn hóa – Xã hội xã Ô Diên kể lại: "Tại khu vực nghi môn của đỉnh Vạn Xuân, các cụ có đặt 4 con cóc, có ý nghĩa rất to lớn trong thời gian đó. Bởi vì khi đó là Hạ Mỗ, đóng vai trò là trung tâm của thành cổ Ô Diên. Giữa tranh chấp, giữa Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương, một nước hai vua. Các cụ không biết theo vua nào, thì mới đặt 4 con cóc để trèo cột đồng trụ hỏi trời biết theo vua nào."

Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng, đình Vạn Xuân còn là nơi lưu giữ ký ức về tinh thần cố kết của cư dân làng Việt qua hàng nghìn năm lịch sử.

Rời mái đình cổ, con đường làng dẫn bước về chùa Hải Giác. Không gian nơi đây như chậm lại trong tiếng chuông ngân và mùi hương trầm phảng phất.

Được xây dựng từ thế kỷ VI, chùa Hải Giác là một trong những công trình Phật giáo tiêu biểu của vùng Ô Diên. Qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính với hệ thống kiến trúc liên hoàn, hàng trăm pho tượng quý cùng những công trình nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Nhưng điều khiến chùa Hải Giác trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở tuổi đời hay quy mô kiến trúc. Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, nơi đây từng là chứng nhân của nhiều sự kiện quan trọng.

Ni sư Thích Đàm Chính, Trụ trì chùa Hải Giác chia sẻ:

"Có nhiều những chiến tích mà thời Phương Bắc đã về đây để xâm chiếm. Rồi tất cả nhân dân ta đã đứng lên để đánh bao nhiêu đợt tấn công của giặc Phương Bắc. Và cũng đặc biệt nữa là cuối thế kỷ thứ 19, năm 1892, đức Thanh Trang đã hy sinh tại chùa này, cùng với Đề Thám là tướng quân đã khởi quân để dẹp đế quốc Pháp."

Mặt trước khuôn viên chùa Hải Giác (Ảnh: vanhoavaphattrien)

Qua bao cuộc bể dâu của lịch sử, chùa Hải Giác vẫn hiện diện như một điểm tựa tinh thần cho cộng đồng. Không chỉ gìn giữ các giá trị Phật giáo, ngôi chùa còn lưu giữ những bài học đạo đức được truyền trao từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Ông Nguyễn Xuân Việt cho biết, phía sau chùa còn có một công trình rất đặc biệt – nơi phản ánh quan niệm nhân sinh của người Việt xưa thông qua nghệ thuật tạo hình dân gian:

"Và cái nét đặc biệt nhất trong chùa Hải Giác này đó chính là phía sau chùa có cái mật động. Mật động của chùa Hải Giác này khác với các chùa khác. Các chùa khác thường hay có các bức phù điêu. Nhưng tại chùa Hải Giác, cái mật động này được đắp bằng tượng.

Cái mật động này khuyên dân con người sống hành thiện, tích đức, tròn đạo nghĩa. Đối với những tội ác ở trên trần gian thì sẽ bằng các hình thức tra tấn đoạn đầy ở dưới địa phủ. Và những công trạng ở trên trần gian thì sẽ được lên thiên giới như thế nào."

Những pho tượng trong mật động không đơn giản là tác phẩm nghệ thuật. Đó còn là cách người xưa gửi gắm triết lý sống hướng thiện, đề cao đạo nghĩa và lòng nhân ái.

Có lẽ vì thế mà suốt bao đời nay, ngôi chùa vẫn là nơi người dân tìm về không chỉ để lễ Phật, mà còn để gìn giữ nếp nhà, nếp người.

Trong tiếng chuông chiều quen thuộc, cụ Lê Thị Tản chia sẻ những điều giản dị mà sâu sắc về giá trị của việc đến chùa:

"Đối với chúng tôi thì là chúng tôi năng ra chùa lắm. Ra chùa thì chúng tôi cũng phải về đến nhà phải giáo hóa cho con cháu. Ăn ở phải làm tốt lành. Ăn ở phải có trên có dưới. Còn biết tôn kính bố mẹ rồi thì cũng biết tôn kính Phật."

Lời tâm sự mộc mạc ấy cũng chính là sợi dây kết nối giữa quá khứ và hiện tại của Hạ Mỗ. Bởi di sản không chỉ là những mái đình, ngôi chùa hay cổ vật còn lưu giữ được, mà còn là những giá trị văn hóa vẫn đang được nuôi dưỡng trong mỗi gia đình, mỗi con người nơi đây.

Giữa nhịp sống hiện đại ngày càng hối hả, Hạ Mỗ vẫn lặng lẽ gìn giữ những lớp trầm tích văn hóa của vùng đất nghìn năm. Và mỗi người tìm về nơi này không chỉ để ngắm nhìn những dấu tích của thời gian, mà còn để lắng nghe tiếng vọng của cội nguồn, để thêm yêu và trân trọng những giá trị đã làm nên hồn cốt của đất Thăng Long – Hà Nội hôm nay.