Điều chỉnh mạng lưới cao tốc: Vươn cảng biển, cửa khẩu, mở rộng không gian phát triển đất nước

Cục Đường bộ Việt Nam vừa trình Bộ Xây dựng phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, đề xuất điều chỉnh phạm vi của 7 tuyến cao tốc.

Việc điều chỉnh lần này không chỉ nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống quốc lộ và cao tốc, mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước. PV Ban VOV Giao thông Quốc gia có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Minh, Phó Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính, Cục Đường bộ Việt Nam.

PV: Ông có thể cho biết các cơ sở, căn cứ điều chỉnh lập quy hoạch mạng lưới quốc lộ lần này?

Ông Nguyễn Văn Minh: Việc lập và điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2023, tầm nhìn đến năm 2050 lần này không phải là một sự thay đổi cục bộ, mà dựa trên những căn cứ pháp lý vững chắc và đòi hỏi thực tiễn rất khách quan. Chúng tôi tập trung vào 3 nhóm căn cứ và thực tiễn cốt lõi sau:

Thứ nhất, căn cứ cơ sở chính trị và căn cứ pháp lý: Quy hoạch lần này căn cứ, bám sát Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn năm 2026 - 2030 gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030) và đặc biệt là Quy hoạch tổng thể quốc gia.

Cao tốc kết nối cảng biển, cửa khẩu, mở rộng giao thương (Ảnh nh họa: ChatGPT)

Thứ hai, đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển của địa phương và các ngành: Trong vài năm qua, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, cảng biển, cửa khẩu quốc tế đã phát triển với tốc độ rất nhanh. Nhiều tuyến quốc lộ hiện hữu đã quá tải hoặc không còn phù hợp với không gian đô thị mới. Việc điều chỉnh nhằm tối ưu hóa khả năng kết nối giữa các phương thức vận tải (đường bộ - đường sắt - hàng hải - hàng không).

Thứ ba, sự thay đổi về địa giới hành chính: Việc sắp xếp, sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo chủ trương của Đảng và Nhà nước làm thay đổi nhu cầu giao thông nội vùng. Hệ thống quốc lộ buộc phải điều chỉnh hướng tuyến, quy mô để phù hợp với định hướng phát triển của các đô thị mới sau sáp nhập.

PV: Việc bổ sung, điều chỉnh các tuyến cao tốc lần này có vai trò và ý nghĩa như nào trong việc phát triển mạng lưới cao tốc ở Việt Nam?

Ông Nguyễn Văn Minh: Việc điều chỉnh, bổ sung các tuyến cao tốc lần này mang tính chiến lược, có thể coi là bước chuyển mình để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 cả nước có khoảng 5.000 km đường bộ cao tốc. 

Trong đó, điều chỉnh quy hoạch lần này nghiên cứu Bổ sung quy hoạch mới 05 tuyến cao tốc, điều chỉnh phạm vi 07 tuyến cao tốc nâng tổng mạng lưới đường bộ cao tốc lên 46 tuyến, tổng chiều dài khoảng 10.084km (tăng khoảng 1.000km so với Quy hoạch trước).  Vai trò và ý nghĩa lớn nhất của điều chỉnh quy hoạch thể hiện ở ba khía cạnh:

Thứ nhất, tối ưu hóa và khép kín mạng lưới: Chúng ta không chỉ kéo dài các tuyến trục dọc như Cao tốc Bắc - Nam phía Đông, mà lần này tập trung mạnh mẽ vào việc bổ sung các trục ngang, các tuyến vành đai và các tuyến kết nối biên giới, kết nối ra biển. Điều này giúp mạng lưới cao tốc không còn là những đoạn tuyến rời rạc mà thành một hệ thống đồng bộ, thông suốt.

Thứ hai, giải quyết "nút thắt" về chi phí logistics: Hiện nay, chi phí logistics ở Việt Nam vẫn còn cao so với khu vực. Các tuyến cao tốc mới được bổ sung sẽ rút ngắn đáng kể thời gian vận chuyển hàng hóa từ các trung tâm sản xuất nội địa ra các cảng biển lớn (như Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải), các đầu mối giao thông quan trọng (như sân bay Gia bình…) và các cửa khẩu quốc tế (như Tà Nùng, Tân Thanh, cầu treo…) .

Thứ ba, đảm bảo an ninh quốc phòng và đối ngoại: Nhiều tuyến cao tốc bổ sung ở khu vực biên giới phía Bắc, Tây Nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đồng thời thúc đẩy giao thương xuyên biên giới với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia trong các hành lang kinh tế quốc tế.

Mạng lưới cao tốc mở ra những không gian phát triển mới (Ảnh nh họa: ChatGPT)

PV: Sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính, việc điều chỉnh quy hoạch cao tốc sẽ hỗ trợ các địa phương kết nối vùng và mở rộng không gian phát triển như nào?

Ông Nguyễn Văn Minh: Giao thông đi trước một bước, "đường mở tới đâu, không gian phát triển mở ra tới đó". Khi các địa phương thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển không còn bó hẹp trong ranh giới cũ. Việc điều chỉnh quy hoạch cao tốc lúc này đóng vai trò là "chất xúc tác" cực kỳ quan trọng: xóa nhòa địa giới, thúc đẩy liên kết vùng thực chất: Trước đây, ranh giới hành chính đôi khi tạo ra những "điểm nghẽn" về giao thông giữa các tỉnh.

Việc điều chỉnh cao tốc hướng tới mục tiêu kết nối liên vùng sẽ giúp các địa phương sau sáp nhập, hoặc các tỉnh trong cùng một vùng kinh tế, dễ dàng chia sẻ nguồn lực. Tiếp đó, hình thành các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng mới: Cao tốc đi qua sẽ biến những vùng đất trước đây là "vùng sâu, vùng xa" thành những quỹ đất vàng để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị vệ tinh.

Các nút giao cao tốc sẽ trở thành các cửa ngõ giao thương sầm uất, giúp giảm tải áp lực cho các đô thị lõi hiện hữu. Phân bổ lại dân cư và lao động: Sự kết nối mạnh mẽ của cao tốc giúp người dân có thể sinh sống ở những vùng có chi phí hợp lý hơn nhưng vẫn dễ dàng di chuyển đến trung tâm làm việc. Điều này hỗ trợ đắc lực cho các địa phương trong việc quy hoạch lại các khu đô thị mới, khu tái định cư bài bản và hiện đại hơn sau khi sắp xếp lại bộ máy hành chính.

PV: Việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ lần này mang ý nghĩa như thế nào đối với việc tổ chức không gian phát triển quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới?

Ông Nguyễn Văn Minh: Nhìn chung, việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới đường bộ lần này không chỉ là câu chuyện bổ sung những kilomet đường, mà là câu chuyện tổ chức lại không gian phát triển của quốc gia, bảo đảm liên kết nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế gắn với khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, từng vùng, từng địa phương trong vùng, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần bảo đảm mức tăng trưởng kinh tế hai con số trong nhiều năm, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nhanh và bền vững hơn.

PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi vừa rồi!