Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến có góc nhìn về câu chuyện bảo tồn đình làng giữa nhịp phát triển của Hà Nội hôm nay.
Trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, một ngôi làng mới hình thành có thể không có chùa nhưng dứt khoát phải có đình. Đình được coi là cái rốn văn hóa của làng và phường. Trong qui hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm, có nhiều làng cổ thuộc các phường sẽ phải di dời.
Nhiều người lo lắng đình cổ không còn trong khi nhà nước chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc các giá trị văn hóa truyền thống. Phải chăng giữa phát triển và bảo tồn có mâu thuẫn?
Đình làng có từ thời Bắc thuộc, chức năng ban đầu của nó chỉ là nơi nghì ngơi cho khách bộ hành. Năm 1044, vua Lý Thái Tông cho xây đình Hoài Viễn ở làng Cự Linh thuộc huyện Gia Lâm cũ làm nơi nghỉ ngơi cho các sứ thần trước khi sang Thăng Long bệ kiến nhà vua.
Năm 1231, vua Trần Thái Tông đã lệnh cho các làng đắp tượng để thờ Phật ở đình. Thời Hậu Lê, Nho giáo lên ngôi, đình thành nơi thờ người có công khai canh lập ấp, mang nghề về cho làng hay có công đánh giặc ngoại xâm gọi là Thành hoàng.
Từ thế kỷ 16, việc xây đình được các làng xem trọng. Cơ bản đình các làng có kiến trúc khá giống nhau, cột cái là gỗ tốt đường kính rất lớn đặt trên trụ đá và đình lớn thường có 48 cột lớn nhỏ. Mái ngói cong, góc mái có đầu đao.
Bên ngoài có cổng tam quan đồ sộ. Nội thất có bài vị ghi lại lai lịch và công lao Thành hoàng. Lại có câu đối, đại tự ca ngợi truyền thống, nét đẹp văn hóa của làng. Vì quan niệm đình còn ảnh hưởng đến sự bình an, thịnh vượng hay nghề nghiệp của dân làng vì thế khi dựng đình phải mời thầy phong thủy chọn hướng.
Trước đình phải tụ thủy, tức là nhìn ra một khúc sông, ao, hồ hoặc một cánh đồng trũng thấp, thì mới đọng của, làng mới giàu. Nếu ao hồ không có những mô đất nổi lên sẽ phải đắp nhân tạo làm án, làm bút để việc học hành mới thuận, thi mới đỗ.
Hà Nội xưa là Kinh đô nên có nhiều ngôi đình lớn dáng vẻ uy nghi, thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của phố thị. Dân các làng nghề về Thăng Long mở xưởng nghề không có điều kiện về quê vào dịp hội làng nên họ góp tiền lập đình mới thờ tổ nghề.
Ví dụ như đình Kim Ngân phố Hàng Bạc thờ tổ nghề kim hoàn, đình Tú Thị ở ngõ Yên Thái thờ tổ nghề thêu, đình Trúc Lâm ở phố Hàng Mành thờ tổ nghề giầy da.
Cuối thế kỷ 19, Thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, họ mở đường, di nhiều làng xây khu phố mới nên nhiều ngôi đình không còn. Trụ sở công an đầu phố Tràng Thi xưa là đình làng Phúc Tô. Do đặc thù đô thị đông đúc vì thế không thể tổ chức lễ hội rình rang hai ba ngày.
Nhà đất trong phố ngày càng tăng giá đã xuất hiện những kẻ “buôn đình, bán đền”. Một số ngôi ở khu phố cổ được xây hai tầng trên thờ, dưới cho thuê bán hàng. Có đình bị cắt bớt đất bán cho người đầu cơ. Thậm chí bị mất như đình Đồng Xuân ở phố Hàng Giấy. Hiện Hà Nội có khoảng 60 ngôi đình, trừ một số ít vẫn giữ được vẻ cổ kính song phần lớn đã bị biến đổi hình thù và công năng.
Từ lâu đình đã được giải thiêng nhưng vẫn là nơi thực hành tín ngưỡng dân gian vốn lá hồn dân tộc. Nếu Hà Nội thực hiện qui hoạch, có ngôi đình trong diện phải đi dời thì thành phố nên đầu tư, xây đình mới nơi dân làng đó sẽ cư ngụ, điều đó không chỉ đáp ứng đời sống tâm linh, tín ngưỡng mà cũng là bảo tồn văn hóa