Từ tiếng vỗ mạn thuyền ngày xưa đến mái ngói rêu phong, bảng hiệu song ngữ Việt - Hoa và mùi hương của các tiệm ăn lâu đời vẫn ngày ngày đan xen trong dòng người xuôi ngược. Chợ Lớn giữ cho mình một nhịp điệu riêng, nơi ký ức cộng đồng người gốc Hoa lặng lẽ tồn tại, hòa vào đời sống đô thị Sài Gòn mà vẫn không đánh mất bản sắc riêng.
Câu chuyện của Chợ Lớn bắt đầu từ những chuyến đi. Vào cuối thế kỷ 17, những đoàn thuyền chở theo người Hoa rời quê hương, xuôi về phương Nam tìm một vùng đất mới. Họ mang theo không chỉ hành lý, mà còn là tập quán, tín ngưỡng, nghề nghiệp và cả khát vọng lập nghiệp nơi đất lạ. Ban đầu, họ dừng chân ở Cù Lao Phố (Biên Hòa-Đồng Nai), nhưng rồi những biến động lịch sử khiến họ tiếp tục di chuyển, tìm đến vùng đất ven kênh Bến Nghé – Tàu Hủ, nơi có dòng nước hiền hòa và tuyến đường thủy giao thương thuận lợi.
Trước đó, chính ở nơi này, từng có một thị trấn do người Hoa lập nên vào năm 1778, nằm từ đường Tản Đà tới Kim Biên và từ Nguyễn Trãi xuống kênh Tàu Hủ. Nhưng do biến động lịch sử, năm 1782, khu vực này bị tàn phá nặng nề. Chính những người Hoa ở Cù Lao Phố đã di cư xuống, kết hợp cùng người dân tại đây xây dựng lại một nơi sinh sống sung túc và nhộn nhịp.
Từ một điểm tụ cư, Chợ Lớn lớn dần theo từng chuyến ghe, từng mùa nước nổi. Những con thuyền từ ền Tây chở lúa gạo, trái cây, hàng hóa nối nhau cập bến. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng mặc cả, tiếng chèo khua nước - tất cả hòa vào nhau thành một nhịp điệu riêng, không lẫn vào đâu được. Những mái nhà dựng lên, những con phố hình thành và một đô thị đã được khai sinh.
Tên “Chợ Lớn” bắt nguồn từ việc khu vực này có hai ngôi chợ lớn, trong đó chợ sau (chợ Bình Tây) lớn hơn chợ trước (chợ Sài Gòn cũ, gần Bưu điện Chợ Lớn ngày nay). So với các chợ của người Việt, chợ của người Hoa lớn hơn, nên dân gian gọi là “Chợ Lớn”.
Điều đặc biệt là Chợ Lớn chưa bao giờ được “vẽ” ra trên giấy trước khi tồn tại. Nó không phải là một đô thị được quy hoạch từ đầu, mà là một đô thị lớn lên từ đời sống. Phố này bán vải, phố kia bán thuốc, phố nọ làm lồng đèn… Từng con đường, từng khu phố đều mang dấu ấn của nhu cầu buôn bán và sinh hoạt.
Cùng với vốn liếng và kỹ năng thương mại, cộng đồng người Hoa còn mang đến một lớp văn hóa đặc biệt. Những hội quán, chùa ếu được dựng lên, không chỉ để thờ cúng, mà còn là nơi gặp gỡ, kết nối cố hương, cộng đồng người Việt gốc Hoa. Đến nay, những công trình như Chùa Bà Thiên Hậu vẫn còn đó, như những chứng nhân thầm lặng của lịch sử.
Thời gian trôi đi, Chợ Lớn bước vào những giai đoạn mới. Khi Pháp chiếm Nam Kỳ, họ mang theo một cách nhìn khác về đô thị. Năm 1865, danh từ “Chợ Lớn” lần đầu được dùng đặt tên cho một thành phố. Ngày 1/7/1882, tuyến đường xe điện đầu tiên ở Việt Nam dài 5km, rộng 1m, nối TP Sài Gòn và Chợ Lớn bắt đầu hoạt động.
Nếu Sài Gòn mang dáng dấp của một đô thị phương Tây với những đại lộ thẳng tắp, thì Chợ Lớn vẫn giữ cho mình sự chật chội, đông đúc, nhưng đầy sức sống của một đô thị phương Đông. Một bên là trung tâm hành chính, một bên là trung tâm thương mại. Hai thế giới ấy tồn tại cạnh nhau, bổ sung cho nhau. Và ở giữa, là dòng người qua lại, những chuyến xe, chuyến tàu nối liền hai không gian. Dần dần theo thời gian, ranh giới ấy mờ đi, để rồi Sài Gòn và Chợ Lớn hòa vào nhau, trở thành một đô thị lớn, phức hợp hơn.
Năm 1931, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn thành một đơn vị hành chính mới gọi là khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1951, khu Sài Gòn - Chợ Lớn đổi thành Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn và đến năm 1956 đổi thành Đô thành Sài Gòn. Từ đó, địa danh Chợ Lớn chỉ còn được dùng để chỉ toàn bộ khu vực quận 5, quận 6 và một phần quận 11 (cũ).
Nhận định về vùng đất và văn hóa ở khu vực Chợ Lớn, Tiến sĩ Vũ Gia Hiền – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn Hóa Du lịch cho biết: "Nếu Sài Gòn là văn hóa thì Chợ Lớn là trung tâm thương mại rất là lớn. Trong đó, người Hoa sống quần cư, sống trong giới hạn hạn hẹp chứ không làm nhà lớn. Cách sống của người Hoa là sống kín đáo, đơn giản, gọn nhẹ. Mặc dù họ giàu nhưng không làm nhà lớn và họ vẫn ở nhà nhỏ, gần gũi. Vì vậy ta mới thấy khu vực Chợ Lớn gần gũi, thân thiện và nhiều đặc trưng của người Hoa".
Sau năm 1975, Chợ Lớn trở thành một phần của TPHCM, bước vào một giai đoạn mới cùng với cả nước. Ngày nay, khi thành phố phát triển nhanh chóng, những tòa nhà cao tầng và những khu đô thị mới thi nhau mọc lên thì Chợ Lớn vẫn ở đó với nhũng con phố nhỏ, mái ngói rêu phong, nhưng lại mang sức hút riêng kỳ lạ. Người ta đến đây không chỉ để mua bán, mà còn để tìm lại một phần ký ức của đô thị.
Cô Thu Ba, người dân phường Hòa Hưng, thường xuyên đến khu vực Chợ Lớn để mua hàng hóa, chia sẻ: "Chợ Lớn là đầu mối cung cấp hàng hóa của cả nước trước đây và ngay cả bây giờ. Khu vực này vẫn giữ được sự nhộn nhịp và truyền thống văn hóa của người Hoa, nhất là dịp Lễ, Tết. Về buôn bán, thì tôi thấy các chợ đầu mối như chợ Bình Tây, chợ rau củ quả gần bến xe Chợ Lớn vẫn rất là nhộn nhịp".
Bà Ánh đã gắn bó với nghề tiểu thương ở Chợ Bình Tây hơn nửa thế kỷ, chia sẻ: "Bán ở đây vui, chị em cũng thuận thảo, mối ai nấy bán, không ai giành giật với ai. Giá bán sỉ ở đây rẻ lắm, bán sỉ cho mấy chợ nhỏ, người ta mua 2 ký, 5 ký vậy đó".
Tính đến thời điểm này, Chợ Lớn vẫn là nơi duy nhất tại TPHCM còn bảo tồn nguyên vẹn nhiều giá trị văn hóa, kiến trúc của hàng trăm năm trước. Điều này có thể thấy rất rõ trên những mái nhà lợp ngói ống ở dãy phố đường Hàm Tử, Hải Thượng Lãn Ông, Triệu Quang Phục, Châu Văn Liêm… Bụi thời gian nhuốm màu nâu xám rất đẹp, vẻ đẹp ấy cùng với kiến trúc đặc trưng nơi đây phảng phất một nét đẹp xưa vừa lạ lẫm vừa gần gũi.
Đứng giữa ngã tư Hải Thượng Lãn Ông – Phùng Hưng vào một buổi chiều, bạn sẽ nhận ra âm thanh ở đây có một tần số riêng biệt: tiếng xe máy pha lẫn tiếng Tàu, tiếng Việt, tiếng còi tàu xa xa từ bến Bình Đông, và cả những âm thanh khó tả từ các xưởng thủ công truyền thống. Đó là bản giao hoà của một vùng đất đã trải qua quá nhiều biến cố lịch sử những vẫn không ngừng sôi động.
Nếu âm thanh là nhịp điệu của Chợ Lớn, thì mùi hương chính là linh hồn của nơi này. Từ xa, bạn đã có thể ngửi thấy mùi trầm hương từ những ngôi chùa cổ kính, quyện hòa cùng hương thơm của các loại bánh chiên nóng hổi nơi góc phố, mùi thuốc bắc từ những hiệu thuốc Đông y truyền thống. Những làn hương đan xen này không chỉ lướt qua khứu giác, mà còn là dấu ấn lưu cữu một nền văn nh thương mại đã tồn tại hơn hai thế kỷ.
Một số chuyên gia kinh tế cho biết, di sản của Chợ Lớn có thể nuôi dưỡng văn hóa du lịch, đem lại nguồn thu cho TP HCM tương tự cách Thái Lan, Malaysia, Singapore phát triển các khu phố Hoa (Chinatown).
Tại một hội nghị về công tác bảo tồn di sản và phát triển du lịch khu vực Chợ Lớn, Ông Nguyễn Văn Mỹ, lãnh đạo Công ty Du lịch Lửa Việt khẳng định, Chợ Lớn không thiếu tài nguyên, mà chỉ thiếu cách làm du lịch bài bản và đang nắm trong tay lợi thế rất lớn về thị trường nguồn khách tiềm năng.
“Chợ Lớn là văn hóa của người Hoa, mặc dù tỉ lệ người Hoa chưa chắc đã bằng chỗ khác, nhưng về mặt di tích văn hóa, kiến trúc, lịch sử thì nơi đây tập trung rất lớn. Chúng ta biết hơn 20 triệu khách quốc tế đến Việt Nam thì hơn một nửa số đó là người Hoa từ Trung Quốc đại lục, Đài Loan. Chưa kể người Hoa ở các nước khác, họ cũng có mối liên hệ văn hóa – tình cảm với người Chợ Lớn, điều này sẽ rất thuận lợi thu hút du khách. Bài toán hiện nay là sắp xếp lại các tài nguyên thành sản phẩm du lịch. Vàng để trong quặng thì nó cũng có giá, nhưng tạo thành trang sức thì giá trị gấp trăm lần”.
Chợ Lớn, suy cho cùng, không chỉ là một địa danh. Nó là một câu chuyện. Một câu chuyện được kể bằng tiếng nước vỗ mạn thuyền ngày xưa, bằng tiếng rao hàng trong những con hẻm nhỏ, bằng ánh sáng hắt ra từ những tiệm buôn đã tồn tại qua nhiều thế hệ. Và nếu một ngày nào đó, bạn đi qua nơi này, thử bước chậm lại một chút. Biết đâu, giữa những ồn ào quen thuộc, bạn sẽ nghe thấy Chợ Lớn đang kể chuyện câu chuyện của chính mình, kéo dài suốt hơn hai trăm năm, vẫn chưa bao giờ dừng lại…./.
SỐNG Ở SÀI GÒN: Xe buýt và văn hóa đi chung của người Sài Gòn
Giữa nhịp sống hối hả ở Sài Gòn - TP.HCM, xe buýt từng là biểu tượng của sự tiết kiệm và cộng đồng. Theo thời gian, thói quen ấy dần phai nhạt trước làn sóng phương tiện cá nhân. Nay, chính sách ễn phí vé như một lời mời gọi quay về văn hoá “đi chung” – từ bỏ chiếc kén sắt cá nhân để hoà vào dòng chảy cộng đồng. Nơi mỗi chuyến xe không chỉ chở người, mà còn chở theo tinh thần đô thị xanh, văn nh, bền vững.
Giữa lòng Sài Gòn – TPHCM, từng có một thời xe buýt là phương tiện quen thuộc, là lựa chọn phổ biến của hàng nghìn người dân Sài Thành. Những chuyến xe buýt len lỏi qua từng tuyến phố, đưa đón học sinh, sinh viên đến trường, chở người dân đi chợ, đi làm, khám bệnh… Tiếng máy nổ, tiếng vé xé, tiếng gọi nhau í ới rôm rã vang vọng trên đường phố. Những chuyến xe buýt không chỉ những phận đời, phận người mà còn chia sẻ không gian sống.
Khi bước lên xe buýt, hành khách bước vào một môi trường chung – nơi có sự nhường nhịn, chia sẻ và ý thức cộng đồng. Khi ấy, việc “đi chung” không chỉ không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo nên một nếp sống đô thị gắn kết, giàu tính cộng đồng. Theo dòng thời gian, cùng với sự phát triển nhanh của đô thị, Thành phố có hàng chục triệu xe máy và ôtô. Phương tiện cá nhân bùng nổ, sự tiện lợi và chủ động khiến người dân rời xa xe buýt. Văn hoá “đi chung” vì thế cũng dần phai nhạt, nhường chỗ cho thói quen “mỗi người một phương tiện”.
Theo số liệu từ ngành giao thông thành phố, hiện TP.HCM có hơn 2.000 xe buýt hoạt động trên khoảng 120 tuyến, phục vụ hàng trăm triệu lượt hành khách mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ người dân sử dụng xe buýt vẫn còn khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng dưới 10% nhu cầu đi lại, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của một đô thị đặc biệt. Trong bối cảnh này, TPHCM dự kiến triển khai chính sách ễn phí vé xe buýt cho toàn dân từ tháng 5 sắp tới, với tổng kinh phí hơn 900 tỷ đồng cho 8 tháng còn lại của năm 2026.
Chính sách ễn phí vé xe buýt xuất hiện có thể nói như một “cú hích” kỳ vọng thay đổi quen di chuyển, kéo người dân quay lại với giao thông công cộng. Khi người dân bắt đầu lựa chọn xe buýt làm phương tiện đi lại, áp lực giao thông sẽ giảm, đồng thời góp phần giảm lượng khí thải, ô nhiễm môi trường. Ở một góc nhìn rộng hơn, đó còn là bước đi nhằm tái thiết lại văn hoá giao thông đô thị.
Khi bước lên xe buýt, hành khách không chỉ thay đổi phương tiện di chuyển, mà còn bước vào một không gian chung – nơi nhiều tầng lớp xã hội cùng hiện diện. Người trẻ, người già, người lao động… cùng chia sẻ một hành trình, một điểm đến… Và trên những chuyến xe 0 đồng hôm nay, một nét văn hoá từng rất đẹp của Sài Gòn - “văn hóa đi chung” có cơ hội được tái sinh giữa lòng thành phố sôi động hôm nay.
Qua từng giai đoạn phát triển của Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh, giao thông công cộng luôn phản chiếu cách đô thị đối xử với người dân. Chính sách ễn phí vé hôm nay cho thấy một sự dịch chuyển: từ quản lý dịch vụ sang phục vụ cộng đồng, nơi đô thị biết “chở nhau” nhiều hơn. Một thành phố phát triển không chỉ đo bằng những toà nhà cao tầng, mà còn ở cách con người san sẻ, di chuyển cùng nhau.
Dẫu vậy, để chính sách này phát huy hiệu quả bền vững, thành phố vẫn cần tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt: từ việc rút ngắn thời gian chờ, tăng độ phủ tuyến, đến cải thiện thái độ phục vụ. Bởi lẽ, ễn phí chỉ là bước đầu – còn giữ chân hành khách mới là mục tiêu lâu dài. Khi ngày càng nhiều người lựa chọn “đi chung”, thành phố không chỉ giảm áp lực hạ tầng giao thông, mà còn từng bước xây dựng lại một nền văn hoá đô thị nhân văn, bền vững – nơi mỗi hành trình không chỉ là di chuyển, mà còn là sự kết nối, là nền tảng cho một đô thị văn nh, bền vững và đáng sống hơn trong tương lai.