Áp lực về thiếu nước mùa cạn, ô nhiễm, xâm nhập mặn
Theo báo cáo xây dựng quy hoạch của Trung tâm Quy hoạch điều tra tài nguyên nước ền Bắc, nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực sông Cả đang gia tăng nhanh cùng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Bắc Trung Bộ. Theo Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Cả thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhu cầu sử dụng nước đến năm 2050 dự kiến tăng khoảng 1,2 lần so với hiện nay.
Trong khi đó, nguồn nước trên lưu vực phân bố rất không đều. Tổng lượng nước mặt trung bình nhiều năm khoảng 23,87 tỷ m3 nhưng tới 75% tập trung vào mùa lũ, mùa kiệt chỉ chiếm khoảng 25%. Điều này khiến nhiều khu vực thường xuyên đối mặt tình trạng thiếu nước trong mùa khô, đặc biệt tại vùng ền núi cao, vùng sâu vùng xa.
Không chỉ thiếu nước mùa kiệt, chất lượng nguồn nước tại nhiều khu vực cũng đang chịu áp lực lớn. Báo cáo quy hoạch cho thấy tại một số đoạn sông Cả, sông Hiếu, các thông số ô nhiễm như BOD5, NH4+ đã vượt quy chuẩn từ 1,6-2,3 lần.
Cùng với ô nhiễm là tình trạng xâm nhập mặn ngày càng rõ nét ở vùng hạ lưu. Theo báo cáo, vào mùa khô, nước mặn đã ảnh hưởng tới khu vực Chợ Tràng, cách cửa biển khoảng 36 km; có thời điểm xâm nhập sâu tới Yên Xuân trên dòng chính sông Cả.
Biến đổi khí hậu làm gia tăng rủi ro
Quy hoạch đánh giá biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục làm diễn biến tài nguyên nước trên lưu vực trở nên phức tạp hơn trong các thập niên tới.
Theo kịch bản RCP4.5 (kịch bản phát thải mức trung bình), đến năm 2050, nhiệt độ trung bình năm trên lưu vực sông Cả có thể tăng khoảng 1,61,7 độ C. Trong khi đó, lượng mưa có xu thế biến động mạnh theo mùa: mưa mùa hè giảm, nhưng mùa thu và mùa đông tăng đáng kể.
Kết quả tính toán cho thấy tổng lượng tài nguyên nước trên lưu vực có xu thế tăng nhẹ, từ khoảng 23,87 tỷ m3 giai đoạn 1980-2023 lên khoảng 25,07 tỷ m3 vào năm 2050. Tuy nhiên, sự gia tăng này không đồng nghĩa với giảm áp lực thiếu nước do phân bố nguồn nước tiếp tục bất ổn và cực đoan hơn.
Một đặc điểm đáng chú ý của lưu vực sông Cả là tính chất xuyên biên giới. Khoảng 5,4 tỷ m3 nước, tương đương 23% tổng lượng nước toàn lưu vực, đến từ lãnh thổ Lào. Điều này khiến bài toán bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ dừng ở phạm vi nội vùng mà còn liên quan tới quản lý dòng chảy liên quốc gia.
Dù đặt ra nhiều mục tiêu lớn, quy hoạch cũng chỉ rõ nhiều tồn tại trong khai thác và sử dụng nước hiện nay. Một số công trình khai thác, sử dụng nước chưa vận hành hiệu quả, có nơi chỉ đạt khoảng 65-70% năng lực thiết kế. Việc quản lý nguồn nước giữa các địa phương trên cùng lưu vực còn thiếu đồng bộ, trong khi dữ liệu giám sát tài nguyên nước chưa hoàn thiện.
Điều này cho thấy thách thức lớn nhất của lưu vực sông Cả hiện nay không đơn thuần là thiếu nước, mà là bài toán điều phối, quản trị và sử dụng hiệu quả nguồn nước trên quy mô toàn lưu vực.
Chuyển từ “khai thác nước” sang “quản trị nước”
Trước những áp lực ngày càng lớn, quy hoạch lần này đặt ra cách tiếp cận mới: quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo lưu vực sông thay vì chia cắt theo địa giới hành chính hoặc từng ngành riêng lẻ.
Theo định hướng của quy hoạch, tài nguyên nước phải được quản lý thống nhất giữa nước mặt và nước dưới đất, giữa thượng lưu và hạ lưu, bảo đảm điều hòa, phân phối hợp lý giữa các địa phương và các ngành sử dụng nước.
Trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước, việc phân phối nguồn nước được ưu tiên theo nguyên tắc rõ ràng: ưu tiên cao nhất cho nước sinh hoạt và các ngành sử dụng nước hiệu quả; đồng thời có thể cắt giảm đối với các lĩnh vực tiêu tốn nhiều nước, chưa cấp thiết.
Một điểm mới đáng chú ý của Quy hoạch là việc xây dựng và công bố kịch bản nguồn nước hằng năm, làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương chủ động điều hành khai thác, sử dụng nước. Trong điều kiện bình thường, các địa phương sẽ chủ động điều tiết theo quy trình vận hành liên hồ chứa.
Quy hoạch cũng nhấn mạnh yêu cầu tích trữ và điều tiết nguồn nước theo quy mô toàn lưu vực thông qua hệ thống hồ chứa lớn. Hiện trên lưu vực có nhiều công trình quan trọng như hồ Bản Vẽ với dung tích khoảng 1,8 tỷ m3, hồ Ngàn Trươi khoảng 775 triệu m3, hồ Bản Mồng khoảng 225 triệu m3. Các công trình này được xác định không chỉ phục vụ riêng cho thủy lợi hay thủy điện mà còn đóng vai trò điều hòa nguồn nước cho toàn vùng.
Bên cạnh đó, quy hoạch đặt mục tiêu tăng cường điều phối nguồn nước thông qua các hệ thống công trình như Bara Đô Lương, cống Nam Đàn hay hệ thống Ngàn Trươi - Linh Cảm.
Quy hoạch cũng đặt ra yêu cầu phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, kiểm soát khai thác cát sỏi lòng sông, phòng chống sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn và suy giảm nguồn nước dưới đất.
Đáng chú ý, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước sẽ được xây dựng theo hướng kết nối đồng bộ, phục vụ giám sát và quản trị thông nh nguồn nước trên toàn lưu vực.
Tầm nhìn đến năm 2050, Quy hoạch hướng tới xây dựng hệ thống quản lý tài nguyên nước hiện đại, vận hành trên nền tảng số, bảo đảm điều hòa, phân phối nguồn nước hài hòa, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Các hoạt động khai thác, sử dụng nước sẽ được kiểm soát chặt chẽ, gắn với bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và nâng cao giá trị cảnh quan, hệ sinh thái ven sông.
Một số chỉ tiêu đến năm 2030 dự kiến gồm: 100% nguồn nước liên tỉnh phải được công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải; 80% công trình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải được giám sát vận hành; 50% nguồn nước thuộc diện phải cắm mốc hành lang bảo vệ được thực hiện cắm mốc; 100% hồ, ao có chức năng điều hòa hoặc có giá trị sinh thái, văn hóa không bị san lấp.