Qua miệt cầm ca (Bài 19): Một thời sân khấu không có rạp

Cái thời chưa có rạp hát kiên cố, sân khấu cải lương thường được dựng tạm bợ ở các đình làng, bến sông hoặc ngay tại nhà văn hóa xã/huyện, nơi mọi người tụ tập xem nghệ thuật dân gian.

Với một chiếc sân khấu bằng tre gỗ tạm bợ nhưng từng một thời cải lương đã đón nhận hàng ngàn khán giả sẵn sàng trải chiếu, trải bao ngồi bệt để theo dõi tuồng tích dài đến tận 4-5 tiếng đồng hồ. “Qua ệt cầm ca” lần này nhắc lại những ký ức thân thương của một thời sân khấu cải lương không có rạp.

Gánh hát về làng, ngày hội của ruộng đồng

Miền Tây trước năm 1975 thiếu thốn mọi bề, nhất là văn nghệ - món ăn tinh thần vốn rất cần thiết cho đời sống mà ai ai cũng ưa thích. Không có khả năng lên Sài Gòn để xem các nghệ sĩ cải lương tài danh, như: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương,…biểu diễn nên được coi các đoàn hát, gánh hát cấp tỉnh, cấp huyện về phục vụ đã là hạnh phúc. Sau năm 1975, các Sở Văn hóa - Thông tin đã cấp phép và khuyến khích các đoàn cải lương (chuyên nghiệp và không chuyên) đi lưu diễn để phục vụ bà con ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Việc này vừa phục vụ tuyên truyền chính sách Nhà nước, vừa mang tính giải trí, giáo dục.

Hình ảnh một gánh hát ở Nam Bộ xưa được vẽ nh họa. Người nghệ sĩ đờn và nghệ sĩ hát là nông dân tay cày tay cuốc nhưng đã cống hiến cho nghệ thuật loại hình cải lương. đưa loại hình này phát triển rực rỡ hơn 100 năm. Đi đến đâu, những nghệ sĩ này và đoàn hát của họ cũng được nhân dân mến mộ.

Sáu tháng mùa khô, các đoàn ở Cửu Long sẽ đi về nông thôn đồng bằng, sáu tháng mùa mưa thì đi ra ền Trung lưu diễn. Nghệ sĩ Trần Văn Thiện, nguyên Trưởng Đoàn Cải lương Tây Đô, TP. Cần Thơ nhớ lại:

 “Văn hóa là món ăn tinh thần của tất cả mọi người, thời xưa người ta đâu có điều kiện để xem văn nghệ giải trí vì một phần chưa có nhiều thể loại cho họ xem, nên đoàn đến đâu thì người dân mừng lắm. Đi về vùng sâu diễn mấy tuồng kiếm hiệp, chiều chiều là người dân ăn cơm cho sớm để tối còn đi coi hát."

Thời điểm “lý tưởng” nhất mà đoàn cải lương về neo ở ền Tây là độ tháng Chạp kéo dài đến qua Tết vì lúc này vụ mùa đã kết thúc, bà con thư thả nông nhàn. Địa điểm biểu diễn thường là sân đình hoặc đồng bãi. Khi vừa tới điểm, một bộ phận lo thiết lập sân khấu, họ dùng tấm mê bồ, chiếc đệm bong rạp che bên ngoài, còn bên trong sân khấu dựng lên bằng cây ván hoặc sử dụng nền đất làm rạp. Một bộ phận chèo ghe đi “rao bản”, trên ghe là một cái trống chầu lớn đánh liên hồi để thông báo cho bà con biết có gánh hát về và dùng cái loa làm bằng giấy cứng để đọc tên tuồng, giới thiệu tên đào kép.

Một gánh hát biểu diễn ở đình làng tại tỉnh Vĩnh Long (được phục dựng) cho thấy nét văn hóa đi coi hát ở ền Tây ngày trước. Sân khấu của nghệ sĩ không rạp, biểu diễn trên nền nhà của ngôi đình.

Anh Nguyễn Minh Hải, ngụ ở xã Vĩnh Phong, tỉnh An Giang hồi tưởng cái thời gánh hát về xứ Cạnh Đền hiu hắt của anh như thế này: 

“Đến 2-3 giờ chiều, người ta dựng rạp xong thì sẽ đi phát loa thông báo hôm nay có nghệ sĩ nào, tối hát thì mình tranh thủ ra trước. Nếu 8 giờ tối hát thì chừng 7 giờ rưỡi mình có mặt tại sân khấu để mua vé vào. Mình mua vé trước được đứng rằng trước, mua sau đứng lút đằng sau, không thấy rõ ca sĩ. Mình vô trước thì mình gặp ca sĩ, mình ôm ca sĩ được, mình đứng sau thì mình chen vô không được. Hồi đó ngày thì đi học, tối thì xin cha mẹ đi coi hát, soạn đồ và mua xăng chuẩn bị chạy vỏ máy đi, vui lắm”.

Thuở đó, cải lương về làng là y như rằng mở hội, nông dân trong nhà nghe được tiếng trống đã nôn nao. Ngày xưa đường sá đi lại quá khó khăn, sình lầy, cầu tre lắt lẻo, vậy mà 6h chiều là bà con đã tập trung về bãi diễn mua vé, chọn chỗ ưng ý nhất, dù đến tận 7h-8h mới hát. Nhiều bà đem theo giỏ đựng trầu cau, các cụ ông lận lưng bao thuốc rê hút cho đỡ buồn ngủ và xua đi muỗi cắn. Ở gần đi bộ, ở xa thì 5-10 người đi chung một ghe, đậu dài dài theo bờ sông như bến chợ. Không có gánh nào có ghế cho khán giả ngồi, muốn ngồi ghế thì phải mang theo.

Người lớn và trẻ em đi coi hát ở đình làng (được phục dựng)

Nghệ sĩ Trần Văn Thiện, nguyên Trưởng Đoàn Cải lương Tây Đô kể tiếp: 

“Ở quê có trăng hay không có trăng cũng không quan trọng, đi coi hát người nào cũng đem theo một bó lá dừa, tối đốt đuốc soi đường về nhà, nửa đường đuốc tắt cái họ quơ thật mạnh, gặp gió đuốc cháy tiếp, sáng rực cả một cánh đồng. Thời đó một gia đình có tới 3 – 4 người đi coi hát, vì ông bà đi thì phải có con cháu theo trông giữ. Cứ như vậy, ghe xuồng đậu lềnh dưới mé sông, mà không bị mất một chiếc nào hết”.

Ánh đèn tắt dần, ký ức còn nguyên

Cái thời hoàng kim của sân khấu cải lương, ền Nam khi đó tới 92 đoàn cải lương lớn nhỏ thay phiên đi phục vụ khán giả khắp mọi ền. Ký ức không thể nào quên của một ền Tây sông nước cách trở là những đêm gió mát dịu trời, người nghệ sĩ được ca diễn dưới hàng ngàn ánh mắt ngưỡng mộ của khán giả, dù sân khấu rất lèo tèo, ánh sáng chỉ trông vào cái đèn măng – xông. Mỗi một tuồng diễn tới tận 4 tiếng đồng hồ, vậy mà từ người già đến người trẻ đều mê mẩn tập trung xem cho tường tận, những tuồng khán giả mê nhất, đó là: Phạm Công Cúc Hoa, Tiếng hò sông Hậu, Đời cô Lựu, Nhớ mùa trăng xưa, Giọt máu oan cừu.

Đốt đuốc đi coi hát ở Vĩnh Long. Đây là tour du lịch được thiết kế để khách lưu trú và khám phá nét văn hóa xa xưa, đẹp, gắn kết của người nông dân ền Tây.

Nghệ sĩ ưu tú Kiều Mỹ Dung kể cái thời đi hát ở nông thôn của đoàn cải lương Tây Đô:

 “Lúc mà đoàn hát ăn cơm chiều là đã thấy người dân tới giành chỗ, người trải tấm chiếu, tấm đệm, có người để đôi dép, chỉ cần đợi đến tối khán giả vô là ngồi thôi. Hồi đó tập thể chỉ lãnh được 21 đồng/đêm diễn thôi, đứng trên sân khấu mình không nghĩ mình là nghệ sĩ đứng hát mà mình nghĩ mình là nhân vật đang phục vụ khán giả. Khán giả hồi đó dễ thương lắm, nhìn khán giả mình thấy tinh thần phấn khởi lắm và nhận thấy con đường mình chọn là không sai lầm”.

 Ngoài những đoàn hát “đại ban” danh tiếng một năm lui về lưu diễn một vài lần, mỗi tỉnh đều có những đoàn “nòng cốt” đứng chân biểu diễn. Ở Cần Thơ thì có đoàn Tây Đô và Tiếng trống Hậu Giang; ở Cà Mau thì hùng hậu hơn, có đoàn Cao Văn Lầu, Hương Tràm, Đất Mũi, Viên An.

Trong đó, đoàn Hương Tràm nổi tiếng vang dội vì mỗi năm đều dàn dựng tuồng mới và chịu đầu tư cảnh trí. Ấn tượng khó phai nhất của đoàn Hương Tràm một thời là diễn vở “Nụ cười Tây hậu”, có cảnh con quạ từ trên cao sà xuống lấy cắp bức ảnh chân dung vợ của anh nông dân. Khi một người hoá trang thành con quạ và được kéo bằng dây cáp bay là đà trên sân khấu, khán giả vô cùng thích thú đứng lên xem như muốn tràn lên sân khấu, thời đó ít có đoàn nào thực hiện những cảnh diễn như thế.

Đuốc con cúi, ngày xưa khi có gánh hát về trong xóm, nông dân quấn đuốc để soi đường trong những đêm đi coi hát.

Gánh hát về, người bán hàng theo thời vụ hoạt động cũng xôm trò với đủ loại, từ: mía chặt khúc, chè đậu xanh nước cốt dừa đường cát, cháo gà, cháo vịt, rượu đế lai rai, bắp nấu, khoai lang, khoai mì, đậu phộng. Thứ được mong chờ nhất khi đi coi hát là uống nước đá si rô, thời đó ở quê vẫn chưa có nước đá nên nó là món hàng đặc biệt chỉ xuất hiện cùng lúc với gánh hát. Coi hát cũng nhiều mà đi chơi cũng không ít, nam thanh – nữ tú là những cặp đôi tha thiết mong chờ gánh hát về làng thật nhiều lần, lý do phổ biến là do hai người yêu nhau, gánh hát đến là điều kiện “cần và đủ” để họ có những khoảnh khắc hẹn hò.

Vãn hát, mọi người xuống xuồng bơi về nhà, ai đi bộ thì băng đồng theo từng tốp. Điểm chung của những chuyến ra về là nói chuyện râm ran, khen anh kép chánh ca mùi, khen cô đào có duyên làm khán giả mê mệt hoặc ghẹo một anh hề làm cả tốp cười lộn ruột. Trời khuya gió mát, đèn dầu, đèn cóc, đèn măng- xông, đuốc lá dừa, đuốc rơm con cúi, thay nhau tỏa sáng soi đường trên những triền đê đông kịt con người. Sông nước thôn quê bỗng nhiên rực sáng huyên náo như ngày hội, mà thật, ngày hội cũng chưa chắc đông vui và có sức hút diệu kỳ bằng gánh hát cải lương.

Đuốc rơm con cúi ngày xưa chỉ gần gặp gió là cháy dữ dội, dân đi xem hát không sợ bị tắt lửa giữa đường.

Nhìn thấy người ta bàn về cải lương, bàn về nghệ sĩ sau mỗi đêm diễn, nghệ sĩ Trần Văn Thiện thấy ấm áp vô cùng: “Đời nghệ sĩ mới vui đó rồi lát lại buồn, buồn một chút là vui lại liền. Đi tới từng nơi sống với người dân, dân yêu thương lo lắng cho mình thì mỗi tối đứng trên sân khấu phải hát cho hay. Nếu kiếp sau trời cho chú làm người, chú sẽ làm nghệ thuật nữa”.

Dẫu biết sân khấu cải lương đang ở giai đoạn cạnh tranh với nhiều thể loại khác và cảnh xem hát mỗi đêm cũng lùi vào dĩ vãng. Nhưng ở cái xứ ruộng đồng, cải lương vẫn đẹp và được khắc ghi qua nhiều ký ức vui vẻ. Bây giờ, khi gió se lạnh báo hiệu Tết về, người ta lại hồi tưởng một thời đốt đèn đi coi hát, làm rộn ràng sông nước thôn quê.