Đường quyền, thế võ không chỉ là kỹ năng sinh tồn mà dần trở thành một phần hồn cốt của vùng đất mới. Theo thời gian, những bài võ được trao truyền qua nhiều thế hệ, hình thành các lò võ cổ truyền đậm chất ệt vườn, làm nơi rèn luyện thân thể, nuôi dưỡng nghĩa khí và đề cao đạo làm người.
Từ lò võ Bạch Hổ của võ sư Năm Đường nơi Cần Thơ đến những lò võ trứ danh ở Chợ Mới, Lấp Vò,… tất cả đã góp phần tạo nên một ền ký ức thượng võ, dung dị mà sâu lắng. “Người Cũ Cảnh Xưa” hôm nay xin được cùng quý vị lật giở trang ký ức vang vọng tinh thần trượng nghĩa, khiêm nhường của những con người đất phương Nam qua dấu ấn của các lò võ, dù đã đi qua nhưng chưa bao giờ phai nhạt.
Võ ệt vườn phương Nam
Theo các bậc cố cựu ở ền Tây Nam Bộ, phương Nam thưở trước đã xuất hiện nhiều tên tuổi võ sư sở hữu trình độ võ thuật cao siêu mà phần lớn đều xuất thân từ những lò võ ệt vườn. Đặc điểm của võ thuật ệt vườn là đơn giản, dễ nhớ với các thế đánh: lách, né, tràn, hụp dựa trên địa hình vườn tược. Võ đường của họ chỉ là một khoảng sân đất hoặc vườn chuối sau nhà, nhưng bằng ý chí kỷ luật và khổ luyện, các thế hệ võ sĩ ệt vườn đã tích lũy cho mình những chiêu thức võ công rồi họ truyền dạy cho môn sinh để gìn giữ tinh hoa võ cổ truyền cho thế hệ sau.
Đại Võ sư, Bác sĩ Phùng Kiến Lạc – Trưởng bộ môn Võ cổ truyền Côn Lôn Bắc Phái tại Cần Thơ, Ủy viên Hội đồng Võ sư TP. HCM thuộc Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam, kể lại:
“Thầy võ ệt vườn đa số là làm vườn nhưng tinh thần thượng võ cao lắm, họ rèn luyện thân thể để bảo vệ Tổ quốc và giúp đỡ người nghèo, thế cô. Thầy ở ệt vườn thường có đôi chân cao, họ thấy được lợi thế đó nên họ mài đôi chân dữ lắm. Còn thầy nào có thể trạng hơi lùn, họ thích luyện tay, bởi vì biết mình nhỏ con, nếu tỉ thí mà nhào tới là bị mấy võ sĩ cao ráo đá bằng chân, nên họ luyện đôi tay cứng và nhanh. Luyện võ hồi đó toàn luyện trên sân đất, mặc quần cụt và áo thun thôi nhưng đạo đức tác phong của bậc hiền sư rất tốt, thật thà và khiêm tốn lắm”.
Từ sau những năm 1950, ền Tây bước vào thời kỳ cực thịnh của các lò võ dân gian. Khắp các vùng quê sông nước, võ đường nối nhau hình thành, mỗi nơi một sắc thái, một tuyệt kỹ riêng, góp phần tạo nên diện mạo phong phú của võ học Nam Bộ. Ở Cần Thơ, người mộ võ nhắc đến Bạch Hổ, Hắc Long, Côn Lôn Bắc Phái, Song Diện; về Gò Công lại vang danh các lò Triệu Tử Long, Mười Lửa; còn vùng Bảy Núi – An Giang nổi bật với Thất Sơn Thần Quyền.
Từ khoảng năm 1935 đến 1965, vùng Thốt Nốt của Cần Thơ từng được xem là “trung tâm võ đài” của ền Tây Nam Bộ. Ca dao có câu: “Chợ Thốt Nốt có lập đài khán võ/Chợ Cờ Đỏ tuy nhỏ mà đông” hay “Đất Cần Thơ lắm anh tài/Lên đài so gậy, xuống đài kết giao”,…đã phần nào thể hiện tinh thần thượng võ của người dân Nam Bộ lúc bấy giờ.
Người đứng đầu võ đường Bạch Hổ là võ sư Võ Thiện Đường (Năm Đường), ông có 8 năm thọ giáo 05 cao thủ đại diện cho các trường phái võ thuật. Dấn thân vào nghiệp võ năm 27 tuổi, ông Năm Đường thi đấu khắp nơi từ Việt Nam sang Campuchia, Lào và được công nhận là bậc cao thủ võ thuật của xứ Đông Dương. Năm 1958, Thốt Nốt nổi lên mấy tên cướp, chúng đến nhà dân tống tiền, giết người. Võ đường Bạch Hổ mở cửa, bà con trong vùng gởi con em mình theo học để hộ thân.
Từ những thế phòng thân, môn sinh ham học tự khổ luyện rồi trở thành võ sĩ có võ công cao cường, đẩy lùi những tên cướp hung hãn, bảo vệ bình yên cho quê hương. Vào mỗi dịp lễ Kỳ Yên, đình làng tổ chức những cuộc giao lưu võ thuật và mời võ sĩ của Bạch Hổ “tỉ thí”, người dân nườm nượp kéo đến cổ vũ và reo hò trong niềm tự hào trước chân dung những tráng sĩ có võ nghệ tài tình, thường ngày hay làm việc trượng nghĩa.
Đại Võ sư, Bác sĩ Phùng Kiến Lạc kể: “Thầy Năm Đường ở Thốt Nốt thì từ nhỏ đến lớn ông ấy luyện võ ệt vườn, nhưng ông ấy đã luyện tập cách đánh võ đài, tuyệt kỹ đánh võ đài của thầy Năm Đường siêu đỉnh lắm. Cũng từ lò võ này mà thầy Năm Đường đã đào tạo ra lực lượng võ sinh chuyên nghiệp dành thi đấu trên võ đài. Ở Cần Thơ, võ sinh đánh võ đài chiếm nhiều nhất là từ lò võ Bạch Hổ, họ tiếp tục di chuyển ra ền Trung và ền Bắc thi đấu để giành huy chương”.
Bước vào võ đường, với những môn sinh có lòng đam mê nghiệp võ, họ sẵn sàng chọn quá trình “bế môn” khổ luyện. Ngày xưa tập võ ban đêm ở sân vườn, thắp đèn dầu tranh tối tranh sáng, lại không có đồng hồ nhiều như bây giờ nên thời gian đứng tấn được tính bằng cây nhang. Cây nhang nằm ngang cột sợi chỉ nối với đồng xu, dưới để một cái dĩa, được phân từng đoạn tương ứng với thời gian năm mười phút hoặc hơn. Nhang cháy tới làm đứt cọng chỉ, đồng xu rớt xuống dĩa tạo ra tiếng kêu, lúc này người tập mới được phép đứng lên.
Đại Võ sư, Bác sĩ Phùng Kiến Lạc cho biết lý do phải đề cao tính kỷ luật khi luyện võ: “Sĩ diện chiếm một phần trong quá trình luyện võ nhưng phần lớn là phải biết kiên nhẫn, có kiên trì mới thành công. Ví dụ, một bài luyện tập gồm 100 thế, nhưng võ sĩ luyện mới tới 99 thế thì phải đốt nhang để luyện lại. Mà nhỡ lần luyện lại này võ sĩ đi 101 thế cũng không được, đốt nhang tiếp tục để luyện lại sao cho đúng 100 thế. Đó chính là điều yêu cầu người luyện võ phải kiên trì”.
Dư âm võ đường ền Tây
Khi đã đạt được cảnh giới võ công, những võ sĩ cũng hơn một lần bước ra biển lớn, xuất môn nhận lời thi đấu. Giai đoạn từ năm 1969 – 1973 là thời kỳ sôi nổi nhất, nghe tin ở đâu mở võ đài, võ sĩ nào cũng chộn rộn khổ luyện quyền thuật thầm mong được chưởng môn cho thượng đài.
Đoạt chức vô địch ngoài phần thưởng tiền nong, tên tuổi các võ sĩ nổi danh như cồn, võ sinh khâm phục kéo đến võ đường bái sư nườm nượp. Nhưng dù có tranh tài khốc liệt trên võ đài đến đâu thì trở về đời sống thường nhật, mỗi võ sĩ đều phải thấm nhuần đạo lý giúp đời, giúp người trong lúc hoạn nạn.
Võ sư Nguyễn Hiếu Nghĩa - học trò của cố Đại lão Võ sư Đoàn Tâm Ảnh, thành viên CLB Côn Lôn Bắc Phái tại TP. Cần Thơ cho biết: “Hồi trước ở Cần Thơ có cái rạp hát Thanh Bình, tụi móc túi nó móc bóp người ta mà mở ra không có tiền, cái nó cú lên đầu người ta tại chỗ. Tôi thấy vậy cái tôi đánh nó, đánh là để cho nó chừa cái thói sau này đừng có đi ức hiếp người ta. Đạo đức võ quan trọng lắm, nếu có tài (võ thuật cao cường) mà không có đức cũng không làm được gì hết. Khi bênh vực người yếu thế, nếu không cần thiết va chạm thì kiềm chế, tránh tối đa những va chạm không đáng có và không được ỷ có ếng võ thì muốn làm gì cũng được”.
Một thời võ đường ền Tây, nay chỉ còn là những dư âm lắng sâu trong ký ức. Những bậc võ sư vang danh thuở ấy, người đã đi xa, người còn lại cũng lặng lẽ lui về ền quê xa vắng, sống đời bình dị giữa bao lo toan thường nhật khi võ thuật không còn là chỗ dựa cho ếng cơm manh áo. Nhưng dẫu thời gian có phủ bụi, ngọn lửa đam mê vẫn âm ỉ cháy, những đệ tử chân truyền năm xưa vẫn cần mẫn truyền lại từng đường quyền, thế võ như nâng niu một phần hồn cốt của cha ông.
Đó không chỉ là chuyện luyện thân mà còn là cách giữ gìn khí phách, giá trị đã từng góp phần làm nên sức mạnh trong hành trình khai hoang mở cõi. Giữa dòng chảy hối hả của hôm nay, võ đường ền Tây có thể không còn rộn ràng như thuở trước, nhưng đâu đó trong tiếng gió vườn và nhịp chân âm thầm trên nền đất cũ, những thế võ vẫn sống nhẹ nhàng, bền bỉ như một ký ức không bao giờ tắt.