Tiếp nối công cuộc mở mang vùng đất An Giang, các bậc tiền nhân đã đào thêm một con kinh nữa tên là Vĩnh An. Năm nay, kinh Vĩnh An đã 182 tuổi, tuy ít được nhắc đến nhưng Vĩnh An đã từng đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ biên cương và nâng cao đời sống sinh kế cho cư dân dọc hai bờ kinh. Đây là công trình nh chứng cho sự kiên trì và sáng tạo của ông cha ta trong công cuộc mở đất, bảo vệ chủ quyền ngày trước.
Dòng chảy mở đất nơi biên viễn
Kinh Vĩnh An còn có tên gọi khác là Vĩnh An Hà, nối Thị xã Tân Châu (cũ) với TP. Châu Đốc (cũ) của tỉnh An Giang. Con kinh này do người dân 3 địa phương Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên cùng góp sức với nhau để đào dưới sự chỉ huy của Tổng đốc An Hà (An Giang - Hà Tiên) Nguyễn Công Nhàn và Thự Tổng đốc Long Tường (Vĩnh Long - Ðịnh Tường) Nguyễn Tri Phương. Khi đào hoàn thành vào tháng 4 năm 1844, kinh có chiều dài 17 cây số, rộng 30 mét, sâu 6 mét. Kinh Vĩnh An ra đời, gánh vác trách nhiệm cùng với sông Vàm Nao sớt chia nguồn nước giữa hai dòng Tiền - Hậu.
Dựa theo nhiều sử liệu thì từ xa xưa, biên giới Tây Nam luôn bị giặc ngoại xâm lăm le tấn công. Hà Tiên và Châu Đốc là hai tỉnh lỵ ven biên, trở thành vị trí trọng yếu mà kẻ thù luôn mong muốn kiểm soát. Năm 1824, kinh Vĩnh Tế được đào xong, góp phần thoát nước ra biển Tây, giúp giao thương hàng hóa thuận lợi, đóng vai trò chiến lược về quân sự để kết nối thành Hà Tiên và thành Châu Đốc khi có biến cố.
Châu Ðốc nằm bên bờ sông Hậu cũng rất cần sự thông thương với Tân Châu phía sông Tiền về cả thương mại lẫn quân sự, nhưng việc thông thương này thời điểm đó chủ yếu qua sông Vàm Nao với khoảng cách rất xa. Khi có giặc xâm lược, quân đội từ sông Tiền (Tân Châu) sang sông Hậu để ứng cứu cho Châu Đốc mất nhiều thời gian.
Đó là chưa kể, nếu triều đình sử dụng Vàm Nao làm con đường cứu viện, thì kẻ thù cũng có thể sử dụng nó làm con đường hành quân và mai phục. Đứng trước đòi hỏi của thời cuộc, các đại thần đã đề xuất cần đào tuyến kinh Vĩnh An để dễ dàng tiếp ứng cho quân đội ta khi có biến cố, việc cốt yếu nên làm này đã được Vua chấp thuận.
Tiến sĩ Ngô Quang Láng - nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh An Giang cho biết thêm về hoàn cảnh lịch sử ra đời con kinh Vĩnh An:
“Khi thành lập tỉnh An Giang năm 1832, triều đình nhìn thấy Châu Đốc chỉ có thể làm tiền đồn mà chưa đủ sức đặt tỉnh thành nên mới chọn Tân Châu để xây dựng tỉnh thành của tỉnh An Giang. Lúc này đã có ý định đào một con kinh nối từ Châu Đốc qua Tân Châu và đó chính là con kinh Vĩnh An. Tuy nhiên, mới vừa đào chưa xong thì có cuộc bạo loạn của Lê Văn Khôi nổi lên, sau đó quân Xiêm La đánh vào nên ta đã bỏ việc đào con kinh này một thời gian dài.
Thời điểm đó, triều đình không dời tỉnh thành An Giang từ Châu Đốc qua Tân Châu nữa và tiếp tục đánh đuổi quân Xiêm La, trong đó nổi tiếng nhất là trận Vàm Nao - Cổ Hũ đầu năm 1834. Sau khi đánh đuổi được quân Xiêm La, triều đình càng thấy được tầm quan trọng của kinh Vĩnh An, đến năm 1842 cho tiếp tục đào hoàn thành để nối sông Tiền với sông Hậu, nối hai vị trí quan trọng để bảo vệ biên giới Tân Châu và Châu Đốc”.
Tài liệu ghi chép lại, dân phu đi đào kinh Vĩnh An gồm 8 đội, mỗi đội 50 người. Mỗi đội mang theo 10 cây cuốc; phảng, rìu, cây mù u, gàu nước, gióng, gánh, ky, mỗi thứ 30 cái. Viên chức ở tỉnh tới địa điểm đào kinh từ trước để cất trại cho dân phu ở, cứ 15 ngày thay đổi một lần cho dân nghỉ ngơi. Kinh Vĩnh An ra đời ở thời điểm đó đã trở thành tuyến đường thủy thứ 2 nối liền từ sông Tiền đến sông Hậu mà không cần phải đi qua sông Vàm Nao.
Tiến sĩ Ngô Quang Láng cho biết thêm về cuộc sống cư dân thuở ban đầu dọc dòng kinh Vĩnh An: “Con kinh này thuở ban đầu đã có người ở nhưng không phải người trực tiếp canh tác mà chủ yếu là quân đội đóng quân. Sau đó tiếp tục khai phá mở rộng, người Chăm đến đây ở phát triển sự nghiệp mua bán bằng ghe, tàu. Người Việt đến định cư, sinh sống bằng nghề bắt cá, trồng trọt, chăn nuôi,… khai thác nguồn lợi thiên nhiên là chủ yếu”.
Dòng chảy văn hóa và ký ức bên đôi bờ Vĩnh An
Kinh xuyên qua cánh đồng hoang vu, mang nước ngọt, bồi đắp phù sa và là “sợi dây” trong suốt để kết nối những con người xa lạ. Cư dân từ muôn phương quy tụ về, hình thành làng mạc trù phú, như: Long Phú, Phú Vĩnh, Châu Phong.
Nước từ kinh Vĩnh An dẫn vào ruộng đồng giúp lúa xanh tươi tốt, tưới mát rẫy bắp, rẫy mía, rẫy đậu xanh, rẫy đậu nành. Vào mùa nước lớn, tôm cá lên đồng sinh sôi nẩy nở, khi nước rút, chúng trở về sông (sông Tiền và sông Hậu) “truyền kiếp” duy trì nguồn lợi thủy sản thiên nhiên, nuôi sống những cư dân dọc theo hai bờ kinh.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hữu Hiệp cho biết: “Con kinh Vĩnh An đào bằng tay này rất ích lợi, nó mang nước ngọt và phù sa vào để người địa phương sạ lúa. Cũng từ con kinh đào Vĩnh An đã tẻ ra nhiều con rạch nhỏ, người ta đào thêm để lấy nước từ con kinh này cung cấp. Cứ thế, đầu hai vàm kinh Vĩnh An, quá trình trao đổi nước, lớn – ròng cứ diễn ra mỗi ngày”.
Điều thú vị của kinh Vĩnh An nằm ở chỗ, đây là dòng kinh hội tụ. Đầu kinh là nơi người Hoa buôn bán tấp nập, cuối kinh là nơi người Chăm có mặt từ rất sớm, ở giữa là nơi đông đảo người Việt sinh sống và canh tác. Một dòng chảy 17km, xét về mặt cự ly thì ngắn, nhưng lại có không gian văn hóa sâu rộng vì kết nối được ba cộng đồng dân tộc.
Điểm đầu của kinh Vĩnh An, người Hoa đã di cư về sinh sống rất đông đảo. Ở đây có ếu Quan Đế được xem là trung tâm văn hóa, gắn kết cộng đồng của người Hoa ở Tân Châu. Rằm tháng Giêng hằng năm diễn ra lễ cúng Ông ở ếu Quan Đế, người Hoa hội tụ về cầu phúc và tống đi những điều xui rủi. Khi đó, phố chợ Tân Châu rất rộn ràng, náo nhiệt.
Điểm cuối của kinh Vĩnh An thì được người Chăm lựa chọn, họ mang đến đây những thánh đường Islam (Hồi giáo) nguy nga cùng nghề dệt thổ cẩm điêu luyện và những món ăn lạ lẫm.
Ở giữa hai cộng đồng Chăm - Hoa có đông đảo người Kinh định cư và canh tác. Ông MoHaMad - Chủ cơ sở dệt thổ cẩm truyền thống tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang cho biết, ông tiếp tục phát huy sở trường, văn hóa, nghề nghiệp của dân tộc mình để góp phần cho làm phong phú thêm bản sắc của đất và người Tân Châu: “Hôm nay tôi tiếp thu nghề truyền thống và đang phát triển nghề này rộng ra. Tôi liên kết với các tour du lịch để đưa khách về đây tham quan và trải nghiệm dệt thổ cẩm”.
Rất tiếc, do gấp rút đào kinh phục vụ cho việc vận chuyển quân lương mà chức năng của kinh Vĩnh An đã vấp phải một số hạn chế. Nơi đầu kinh thông với sông Hậu nhằm ngay chỗ giáp nước, lâu ngày bị phù sa bồi lắng, tàu bè chỉ lưu thông được vào mùa nước lớn. Trong khi đó, tại vàm Vĩnh An phía sông Tiền lại thường xảy ra sạt lở, nhà cửa và phố xá bị cuốn trôi xuống sông.
Bên cạnh đó, người dân cất nhà dọc hai bên bờ kinh, rác thải sinh hoạt xả xuống đã gây tắc nghẽn và ô nhiễm môi trường dòng kinh này hàng chục năm trời. Năm 2009, chính quyền thị xã Tân Châu (cũ) tiến hành san lấp phần đầu kinh Vĩnh An (nối với sông Tiền) và hình thành tuyến dân cư dọc theo hai bên bờ kinh. Phần còn lại thông với sông Hậu không nhận được nước từ sông Tiền nên trở thành con kinh cụt bị bồi lắng. Sứ mệnh kết nối hai dòng Tiền - Hậu đã chấm dứt lúc dòng kinh này ở tuổi 165 năm.
Mười bảy năm rồi, vàm kinh Vĩnh An phía Tân Châu đã không còn nữa, nhưng người địa phương vẫn quen gọi khu vực đó là “vàm kinh”. Thỉnh thoảng, vài chiếc ghe xuồng bé nhỏ vẫn neo đậu, lên xuống hàng hóa, như khơi lại chút kỷ niệm xa xăm về một dòng kinh giao thương tấp nập thuở nào.
Kinh Vĩnh An có ký ức rất thanh lương, lòng kinh căng đầy, dòng nước yên ả chảy qua xóm làng san sát, tưới lên ruộng rẫy tươi xanh, hậu thuẫn cho sinh kế của cộng đồng dân cư sống ven đôi bờ. Dòng kinh cũng in đậm dấu ấn tiền nhân trong công cuộc mở đất và bảo vệ chủ quyền. Bây giờ chức năng của dòng kinh Vĩnh An không còn nữa nhưng dòng kinh này vẫn tặng cho cho đất và người Tân Châu lời chúc: mãi mãi bình an, giống như cái tên Vĩnh An được khai sinh ở chốn này 182 năm về trước.