Trên con đường mang tính lịch sử này, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc, chống phá với nhiều luận điệu sai trái. Trong thời gian qua báo chí cũng đã thể hiện được vai trò là “chiến sĩ” tiên phong trên mặt trận tuyên truyền phản bác vấn đề này. Tuy nhiên hoạt động báo chí hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, vì vậy cần thực hiện một số giải pháp để nâng cao vai trò của báo chí trong đấu tranh với các luận điệu sai trái hiện nay.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là một chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đây là bước đi tất yếu nhằm xây dựng một hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, dễ bị các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc, kích động, chống phá.
Trong bối cảnh đó, báo chí cách mạng Việt Nam - với tư cách là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và Nhân dân - giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Báo chí không chỉ là kênh tuyên truyền chủ trương, đường lối, mà còn là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, trực tiếp nhận diện, vạch trần và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Bài viết tập trung phân tích chủ trương sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, nhận diện các luận điệu chống phá, đánh giá vai trò và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của báo chí trong cuộc đấu tranh này.
I. CHỦ TRƯƠNG SẮP XẾP, TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Tính tất yếu của việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị nước ta trong nhiều năm qua đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; chức năng, nhiệm vụ ở một số tổ chức còn chồng chéo, trùng lắp; phân định trách nhiệm chưa rõ ràng; cơ chế vận hành chưa thực sự khoa học, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là “cuộc cách mạng” nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Đây là yêu cầu cấp bách xuất phát từ thực tiễn phát triển đất nước, từ đòi hỏi của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nhiều nghị quyết, kết luận của Trung ương đã xác định rõ chủ trương: tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Việc thực hiện chủ trương này nhằm tiết kiệm chi ngân sách, dồn nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, tính tất yếu của việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy còn xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn.
Một là, trong bối cảnh nguồn lực ngân sách có hạn, nếu duy trì một bộ máy cồng kềnh, chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn thì sẽ thiếu nguồn lực cho đầu tư phát triển, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh.
Hai là, sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan dẫn đến tình trạng “lắm sãi không ai đóng cửa chùa”, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, làm giảm năng lực cạnh tranh quốc gia.
Ba là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… tạo điều kiện và đòi hỏi phải tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh gọn, hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong quản lý, điều hành.
Bốn là, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hầu hết các quốc gia phát triển đều có bộ máy hành chính tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; đây cũng là xu thế tất yếu mà Việt Nam cần theo kịp.
Có thể khẳng định, đây là cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị rất cao, sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng ta xác định rõ: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, “vừa chạy vừa xếp hàng”, “Trung ương làm trước, địa phương làm sau”, “cấp trên làm gương cho cấp dưới”.
2. Kinh nghiệm quốc tế về cải cách, tinh gọn bộ máy
Cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy là xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Kinh nghiệm của các nước phát triển và các nước có điều kiện tương đồng cung cấp nhiều bài học hữu ích cho Việt Nam.
New Zealand được xem là một trong những quốc gia tiên phong và thành công trong cải cách khu vực công. Từ giữa những năm 1980, New Zealand đã thực hiện cải cách triệt để: thu hẹp khu vực nhà nước, tách bạch chức năng hoạch định chính sách với chức năng cung cấp dịch vụ công, áp dụng cơ chế thị trường vào quản lý công, ký hợp đồng trách nhiệm với người đứng đầu các cơ quan. Kết quả là bộ máy gọn nhẹ, hiệu quả cao, chi tiêu công giảm đáng kể.
Hoa Kỳ thường xuyên rà soát, cắt giảm các cơ quan, chương trình kém hiệu quả thông qua các đạo luật về quản lý hiệu quả hoạt động của chính phủ. Việc đánh giá hiệu quả được thực hiện định kỳ, gắn với phân bổ ngân sách, tạo áp lực buộc các cơ quan phải nâng cao hiệu suất.
Nhật Bản tiến hành nhiều đợt cải cách lớn, đặc biệt là cải cách hành chính trung ương năm 2001, giảm 22 bộ xuống còn 12 bộ, tinh giản đáng kể biên chế và các cơ quan trực thuộc. Cải cách của Nhật Bản đề cao nguyên tắc tập trung quyền lực chính trị, phân quyền hành chính và đẩy mạnh tự chủ địa phương.
Trung Quốc - nước có nhiều điểm tương đồng về thể chế chính trị với Việt Nam - đã thực hiện nhiều lần cải cách lớn về tổ chức bộ máy từ năm 1982 đến nay. Lần cải cách năm 2018 sáp nhập, giải thể nhiều bộ, ủy ban; thành lập các siêu bộ với chức năng tổng hợp, giảm chồng chéo. Trung Quốc cũng đẩy mạnh tinh giản biên chế, cải cách chế độ công vụ và đề cao kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ.
Bài học chung từ các nước cho thấy: cải cách phải có quyết tâm chính trị cao, có lộ trình rõ ràng, có sự lãnh đạo thống nhất, đồng thời chú trọng yếu tố con người - đặc biệt là chính sách đối với cán bộ, công chức trong và sau khi sắp xếp.
3. Kết quả nổi bật trong sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy
Thực hiện chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã triển khai quyết liệt, đồng bộ việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy ở tất cả các cấp, đạt được những kết quả nổi bật, mang tính lịch sử.
Theo Báo cáo số 12662/BC-BNV ngày 26/12/2025 của Bộ Nội vụ, ở cấp Trung ương: tổ chức bộ máy của Chính phủ được sắp xếp, tinh gọn còn 17 Bộ và cơ quan ngang Bộ, giảm 5 đầu mối, tương đương 22,7%. Số tổng cục giảm 13, đạt tỷ lệ 100%; số cục giảm 509, tương đương 76,2%; số vụ giảm 231, tương đương 60,2%; số chi cục và đơn vị tương đương giảm 3.377, tương đương 93,8%. Đây là kết quả chưa từng có, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước.
Ở cấp tỉnh, đã sắp xếp giảm 343 sở và cơ quan tương đương, tương đương 29,1%. Đặc biệt, thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cả nước hiện còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giảm 29 đơn vị hành chính cấp tỉnh, tương đương 46%. Đây là đợt sắp xếp có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, mở rộng không gian phát triển, tạo điều kiện hình thành các vùng kinh tế động lực.
Ở cấp xã, từ 10.035 đơn vị đã giảm còn 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, giảm 6.714 đơn vị, tương đương 66,91%. Việc bỏ cấp huyện và sắp xếp lại cấp xã là bước cải cách mang tính cách mạng, tổ chức lại không gian quản trị địa phương theo hướng tinh gọn, hiện đại, gần dân hơn.
Cùng với sắp xếp tổ chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2025/NĐ-CP về tinh giản biên chế, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để thực hiện tinh giản gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Các chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức nghỉ việc do sắp xếp được ban hành kịp thời, bảo đảm quyền lợi chính đáng, tạo sự đồng thuận trong hệ thống.
Cùng với đó, công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cũng được tiến hành đồng bộ. Việc sắp xếp các ban đảng, các cơ quan giúp việc Trung ương Đảng, các ban đảng cấp tỉnh, cấp huyện được thực hiện theo hướng tinh gọn, hợp nhất các đầu mối có chức năng tương đồng, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cũng đẩy mạnh đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở.
Việc sắp xếp đã đem lại nhiều kết quả tích cực: tiết kiệm chi thường xuyên hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, dành nguồn lực cho đầu tư phát triển; bộ máy hoạt động thông suốt, hiệu quả hơn; tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức được nâng cao; thủ tục hành chính được đơn giản hóa, người dân và doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn. Những kết quả này khẳng định chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy là hoàn toàn đúng đắn, được tổ chức thực hiện bài bản, khoa học, có hiệu quả thực tế, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân ủng hộ.
Tuy nhiên, đi đôi với những kết quả tích cực, quá trình sắp xếp cũng phát sinh không ít khó khăn, vướng mắc: tâm lý e ngại, lo lắng của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức; việc sắp xếp, bố trí lại cán bộ ở một số nơi còn lúng túng; cơ sở vật chất, trụ sở làm việc sau sáp nhập cần thời gian để bố trí phù hợp; việc giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ dôi dư đòi hỏi nguồn lực lớn. Đây cũng chính là những “khe hở” mà các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá.
II. NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CHỦ TRƯƠNG SẮP XẾP, TINH GỌN TỔ CHỨC BỘ MÁY
Lợi dụng thời điểm Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã tăng cường hoạt động chống phá trên nhiều phương diện, đặc biệt là trên không gian mạng. Chúng triệt để khai thác mâu thuẫn, tâm lý hoang mang, lo lắng của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức bị tác động bởi việc sắp xếp; sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để xuyên tạc, kích động. Có thể nhận diện một số luận điệu chống phá chủ yếu sau:
1. Đánh tráo khái niệm: từ “đổi mới hệ thống chính trị” thành “thay đổi chế độ chính trị”
Đây là thủ đoạn nguy hiểm, được các thế lực thù địch sử dụng phổ biến nhất. Lợi dụng việc Đảng ta chủ trương đổi mới, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, chúng cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất “đổi mới hệ thống chính trị” với “thay đổi chế độ chính trị”. Từ đó, chúng tung ra các luận điệu cho rằng việc sắp xếp bộ máy là “bước lùi”, là “tự phủ định”, là “thừa nhận sự thất bại của mô hình hiện tại”, đòi hỏi phải “cải cách thể chế theo hướng đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”.
Thực chất, đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy là việc làm thường xuyên, là yêu cầu khách quan của bất kỳ hệ thống chính trị nào nhằm thích ứng với thực tiễn phát triển. Đảng và Nhà nước ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đó là những vấn đề có tính nguyên tắc, không thay đổi.
2. Xuyên tạc việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Hiến pháp và pháp luật để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch tung ra luận điệu cho rằng Đảng “sửa Hiến pháp theo ý muốn chủ quan”, “tùy tiện thay đổi luật pháp”, “không bảo đảm tính ổn định của pháp luật”; thậm chí đòi “sửa Hiến pháp toàn diện theo hướng dân chủ phương Tây”.
Sự thật là việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật được thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục chặt chẽ, có sự tham gia của các cơ quan có thẩm quyền và lấy ý kiến rộng rãi của Nhân dân. Đây là hoạt động bình thường, tất yếu của một nhà nước pháp quyền, nhằm bảo đảm hệ thống pháp luật theo kịp yêu cầu thực tiễn.
3. Bịa đặt về “đấu đá nội bộ”, “tranh giành quyền lực”
Một luận điệu phổ biến khác là quy chụp việc sắp xếp tổ chức bộ máy, sắp xếp cán bộ là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”, “tranh giành quyền lực”. Chúng dựng lên các câu chuyện hư cấu về “mâu thuẫn trong nội bộ lãnh đạo cấp cao”, đặt điều bịa đặt về các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ.
Đây là thủ đoạn nguy hiểm nhằm phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và đội ngũ cán bộ. Thực tế cho thấy việc bố trí, sắp xếp cán bộ trong quá trình tinh gọn bộ máy được thực hiện theo đúng quy định, công khai, nh bạch, dân chủ, có tiêu chí rõ ràng, được Nhân dân và đội ngũ cán bộ giám sát chặt chẽ.
4. Quy kết việc sáp nhập đơn vị hành chính là “xóa bỏ lịch sử”, “làm mất gốc văn hóa”
Lợi dụng tâm lý gắn bó với địa phương của một bộ phận nhân dân, các thế lực thù địch tung tin sai trái rằng việc sáp nhập tỉnh, sáp nhập xã, bỏ cấp huyện là “xóa bỏ lịch sử”, “xóa bỏ bản sắc văn hóa địa phương”, “áp đặt từ trên xuống”. Một số phần tử cơ hội cố tình kích động tâm lý cục bộ, kêu gọi “giữ tên cũ”, “phản đối sáp nhập” trên mạng xã hội.
Cần khẳng định rằng việc sắp xếp đơn vị hành chính được thực hiện trên cơ sở khoa học, có tính đến các yếu tố lịch sử, văn hóa, địa lý, dân tộc. Tên gọi mới sau sáp nhập được lựa chọn cẩn trọng, lấy ý kiến Nhân dân. Bản sắc văn hóa địa phương, các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy. Việc mở rộng không gian quản trị là để tạo điều kiện phát triển tốt hơn, không phải để “xóa bỏ” quá khứ.
5. Xuyên tạc rằng tinh gọn bộ máy làm giảm chất lượng dịch vụ công, gây xáo trộn xã hội
Các thế lực thù địch tung tin rằng tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy sẽ làm giảm chất lượng dịch vụ công, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp; rằng nhiều cán bộ, công chức “mất việc”, “bị đẩy ra đường”, gia đình họ rơi vào cảnh khó khăn. Chúng phóng đại các trường hợp cá biệt, thổi phồng các khó khăn, tạo dư luận tiêu cực.
Trên thực tế, Đảng và Nhà nước đã có chính sách rất nhân văn đối với cán bộ, công chức, viên chức bị ảnh hưởng bởi sắp xếp: hỗ trợ kinh phí, đào tạo lại, chuyển đổi nghề nghiệp, bảo đảm chế độ phù hợp đối với người nghỉ hưu trước tuổi. Đồng thời, việc đẩy mạnh chính phủ điện tử, chính phủ số, áp dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong giải quyết thủ tục hành chính đã nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, giảm phiền hà, tăng tính nh bạch. Việc tinh gọn bộ máy gắn với cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số đã giúp nhiều dịch vụ công được giải quyết nhanh chóng, thuận tiện hơn so với trước.
Nhận diện đúng, đầy đủ các luận điệu chống phá nêu trên là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược, phương thức đấu tranh phù hợp. Báo chí cách mạng và các lực lượng làm công tác tư tưởng cần thường xuyên cập nhật, phân tích sâu các thủ đoạn mới của các thế lực thù địch để chủ động phản bác kịp thời, hiệu quả. Đặc biệt, cần nhận thức rõ: các luận điệu chống phá ngày nay không còn thô thiển như trước, mà ngày càng tinh vi, “núp bóng” phản biện khoa học, “mượn lời” các chuyên gia, học giả, “khai thác” các vấn đề nhạy cảm về cán bộ, đất đai, môi trường, tôn giáo, dân tộc… để gieo rắc hoài nghi, kích động chia rẽ.
III. VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ
1. Vai trò và đóng góp của báo chí
Báo chí cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã và đang giữ vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Vai trò đó được thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, báo chí là kênh chủ lực tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sắp xếp tổ chức bộ máy. Thông qua các bài viết, phóng sự, chuyên mục chuyên sâu, báo chí giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu sắc về mục tiêu, ý nghĩa, lộ trình của chủ trương lớn này; từ đó tạo sự đồng thuận, ủng hộ trong toàn xã hội.
Thứ hai, báo chí là “tai mắt” phát hiện, nhận diện kịp thời các luận điệu xuyên tạc, chống phá. Với mạng lưới phóng viên rộng khắp, sự nhạy bén chính trị và năng lực phân tích, báo chí phát hiện sớm những thông tin xấu, độc trên không gian mạng, các âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch; cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng và cảnh báo Nhân dân.
Thứ ba, báo chí là lực lượng trực tiếp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bằng các bài viết có lập luận khoa học, chặt chẽ, có dẫn chứng thuyết phục, báo chí vạch trần bản chất, mục đích của các luận điệu xuyên tạc; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, báo chí góp phần định hướng dư luận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, tin giả, tin xấu, tin độc tràn lan trên mạng, báo chí chính thống đóng vai trò là “điểm tựa thông tin” đáng tin cậy, giúp công chúng phân biệt đúng - sai, chính - tà.
Thứ năm, báo chí phát hiện, biểu dương những điển hình tiên tiến, những mô hình, cách làm hay trong sắp xếp tổ chức bộ máy; phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân; góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Thứ sáu, báo chí là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là kênh tiếp nhận, phản ánh ý kiến đóng góp của Nhân dân để các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chủ trương, chính sách. Đối với chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, báo chí đã phản ánh nhiều ý kiến tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ lão thành, người dân về các phương án sáp nhập tỉnh, xã, đặt tên đơn vị hành chính mới… qua đó góp phần vào quá trình ra quyết định.
Trong thời gian qua, hệ thống báo chí cả nước đã tích cực vào cuộc, có nhiều bài viết, chuyên mục, chương trình chất lượng về chủ đề sắp xếp tổ chức bộ máy. Nhiều cơ quan báo chí lớn như Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam… đã mở các chuyên trang, chuyên mục, có nhiều bài viết sắc bén đấu tranh phản bác luận điệu sai trái. Các cuộc thi báo chí về chủ đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng thu hút đông đảo cơ quan báo chí và phóng viên tham gia, tạo nên phong trào rộng khắp, có sức lan tỏa lớn.
2. Một số hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động báo chí trong đấu tranh phản bác các luận điệu chống phá chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy còn một số hạn chế:
Một là, một số cơ quan báo chí, một bộ phận phóng viên còn lúng túng trong nhận diện các luận điệu sai trái, đặc biệt là những luận điệu được “núp bóng” phản biện khoa học, góp ý xây dựng. Năng lực phân tích, lý luận chính trị của một số phóng viên, biên tập viên còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh.
Hai là, nhiều bài viết phản bác còn nặng tính “khẩu hiệu”, thiếu lập luận sắc bén, thiếu dẫn chứng thuyết phục, sức lan tỏa hạn chế. Hình thức thể hiện chưa hấp dẫn, chưa phù hợp với thị hiếu của công chúng trẻ trên không gian mạng.
Ba là, sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí, giữa báo chí với các cơ quan chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn chưa thật chặt chẽ, đồng bộ. Có lúc, có nơi còn tình trạng thông tin trùng lặp, hoặc bỏ trống một số vấn đề quan trọng.
Bốn là, một số ít cơ quan báo chí điện tử, trang tin điện tử còn chạy theo thị hiếu, đưa tin giật gân, câu view; thậm chí “tiếp tay” cho tin đồn thất thiệt, thông tin sai sự thật, gây nhiễu loạn dư luận. Đây là vấn đề cần chấn chỉnh nghiêm khắc.
Năm là, lực lượng làm công tác đấu tranh phản bác trên không gian mạng còn mỏng, chưa được đào tạo bài bản; trang thiết bị, công cụ kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu của môi trường truyền thông số.
IV. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ
Để báo chí thực sự phát huy vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng, đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, chống phá chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động báo chí
Các cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí và cơ quan chủ quản đối với hoạt động báo chí phải thường xuyên quan tâm chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời để báo chí phát huy tốt vai trò định hướng dư luận, động viên xã hội thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, phản bác lại các tư tưởng thù địch, luận điệu xuyên tạc tinh vi. Cán bộ, đảng viên làm công tác tư tưởng phải nắm chắc báo chí thông qua công tác chỉ đạo, định hướng tư tưởng sát sao trong các hoạt động báo chí tại các cấp; kịp thời định hướng thông tin trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm.
2. Xây dựng các cơ quan báo chí, đội ngũ phóng viên vững mạnh về chính trị, tư tưởng, giỏi về chuyên môn
Cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ những người làm báo; bảo đảm tuyệt đại đa số cán bộ, phóng viên, biên tập viên có lập trường chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và sự nghiệp cách mạng. Các cơ quan báo chí phải thực sự là “tiếng nói” của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là “vũ khí sắc bén” trên mặt trận tư tưởng. Việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm báo phải được đặc biệt coi trọng, gắn với tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn. Công tác lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo tại các cơ quan báo chí, giáo dục tư tưởng chính trị và đào tạo chuyên môn phải hết sức được coi trọng, trong đó đặc biệt chú trọng phẩm chất đạo đức, chính trị.
Đồng thời, cần đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng kỹ thuật, công nghệ của các cơ quan báo chí chủ lực; xây dựng các cơ quan báo chí đa phương tiện, đa nền tảng, có khả năng cạnh tranh trên không gian mạng. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động báo chí, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn để nâng cao hiệu quả phát hiện, phân tích, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch. Quy hoạch lại hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, gắn với việc cơ cấu lại nguồn lực, bảo đảm các cơ quan báo chí chủ lực đủ mạnh để dẫn dắt dòng thông tin chính thống.
Trong thời đại tri thức, đội ngũ người làm báo cách mạng cũng phải là những người có tri thức cao, hiểu biết rộng, chuyên môn nghiệp vụ giỏi. Không thể tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng cũng như chống lại các tư tưởng thù địch bằng cách làm báo thiếu sức thuyết phục, kém hấp dẫn. Cái đúng chỉ được xã hội tiếp thu để biến thành nhận thức tư tưởng khi nó có khả năng lôi cuốn được mọi người - tức là phải được truyền bá một cách hấp dẫn, dễ tiếp nhận và có tính thuyết phục. Điều đó đòi hỏi người làm báo phải biết làm báo vừa giỏi vừa hay.
3. Xác định rõ nhiệm vụ, phương thức phòng, chống luận điệu xuyên tạc trong hoạt động báo chí
Cần làm rõ trách nhiệm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong hoạt động báo chí; rà soát, hoàn thiện quy định, quy trình, quy chế tác nghiệp trong hoạt động báo chí hiện nay. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, tổng kết thực tiễn, kịch bản hóa nhiều tình huống có thể xảy ra (khủng hoảng thông tin, tấn công pháp lý, xâm nhập tư tưởng, kích động tập thể, điểm nóng địa bàn, lợi ích nhóm…) để chủ động phương án ứng phó.
Cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí, giữa báo chí với các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Phân công, phân nhiệm rõ ràng, tránh chồng chéo nhưng cũng không bỏ trống địa bàn, lĩnh vực.
4. Tuyên truyền, thuyết phục sâu rộng trong toàn thể đội ngũ làm báo
Tuyên truyền, thuyết phục sâu rộng trong toàn thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên, đảng viên, nhân viên tại các cơ quan báo chí và các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí về tầm quan trọng, ý nghĩa và lộ trình của chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Mỗi nhà báo phải hiểu sâu sắc chủ trương để có thể truyền tải đến công chúng một cách thuyết phục, hấp dẫn; đồng thời chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái.
5. Nhận diện thủ đoạn sử dụng truyền thông để chống phá, xuyên tạc
Những người quản lý báo chí và những người làm báo phải nhận diện được những thủ đoạn sử dụng truyền thông thực hiện âm mưu chống phá, xuyên tạc chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy trong tình hình mới. Cụ thể:
Một là, người tham gia hoạt động báo chí cần thận trọng trước tin đồn trên mạng Internet. Một trong những vấn đề gây bức xúc dư luận hiện nay là một số phóng viên, cộng tác viên của các tờ báo điện tử, trang tin điện tử đang “hoành hành”, gây rối loạn thông tin, nhất là tiếp tay cho tin đồn thất thiệt trên mạng. Báo chí phải phản ánh đúng sự thật, không trở thành “công cụ” để bị lợi dụng làm những điều thị phi.
Hai là, sự thực là “sinh mệnh” của báo chí. Báo chí không chỉ là nơi cung cấp thông tin chính xác, bổ ích cho độc giả mà còn phải định hướng dư luận xã hội, bác bỏ tin đồn thất thiệt. Không phải vấn đề nào cũng có thể đưa lên mặt báo, mà đòi hỏi người làm báo có “nhạy cảm nghề nghiệp” trong chọn lựa, xử lý và có liều lượng thông tin phù hợp. Việc nhà báo sử dụng tin đồn trên mạng để “chính thống hóa” bài báo của mình là vấn đề không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà cả nhiều nước trên thế giới, cần kiên quyết khắc phục.
Ba là, trong môi trường thông tin đa chiều, báo chí cần phải “vun đắp” niềm tin cho công chúng; thực sự là điểm tựa thông tin đáng tin cậy của xã hội, là nơi công chúng tìm đến khi cần thông tin chuẩn xác trước những vấn đề phức tạp.
Bốn là, để chiếm lĩnh và làm chủ “không gian” internet, sàng lọc và định hướng tốt thông tin cho các nhà báo, cần xây dựng một “đội quân” hướng dẫn dư luận viên trên mạng xã hội; phát huy vai trò của các kênh thông tin chính thống trên nền tảng số.
Năm là, cần chủ động nhận diện các thủ đoạn mới của các thế lực thù địch như: lợi dụng công nghệ AI để tạo tin giả, hình ảnh, video giả mạo (deepfake) bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tạo lập, sử dụng hàng loạt tài khoản mạng xã hội ảo để phát tán thông tin xấu, độc theo chiến dịch; mạo danh các cơ quan báo chí, các nhân vật có uy tín để tung tin sai sự thật; lợi dụng các sự kiện nhạy cảm, các vụ việc cụ thể để khái quát hóa, quy chụp, xuyên tạc bản chất chế độ. Báo chí cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để kịp thời phát hiện, xử lý, đồng thời giáo dục công chúng nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin xấu, độc trên không gian mạng.
Sáu là, phát huy vai trò của Hội Nhà báo Việt Nam và các tổ chức nghề nghiệp trong giáo dục đạo đức nghề nghiệp, xử lý nghiêm các vi phạm; đồng thời bảo vệ các nhà báo chân chính trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng. Hoàn thiện hành lang pháp lý về báo chí, không gian mạng, an ninh thông tin để vừa bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, vừa đủ sức răn đe các hành vi lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
KẾT LUẬN
Báo chí cách mạng Việt Nam - với vai trò là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng - có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu chống phá chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Bằng việc tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đường lối; nhận diện sớm và phản bác kịp thời các luận điệu sai trái; định hướng dư luận, củng cố niềm tin của Nhân dân; biểu dương điển hình tiên tiến và phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng, báo chí đã, đang và sẽ tiếp tục là một “binh chủng” chủ lực trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng.
Để hoàn thành tốt sứ mệnh đó, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị: sự lãnh đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, sự quản lý hiệu quả của Nhà nước, sự đầu tư về nguồn lực, công nghệ, và đặc biệt là sự nỗ lực của chính đội ngũ những người làm báo./.