Đây là bước tiến quan trọng về chuyển đổi số nhằm nh bạch hóa chuỗi cung ứng, đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe tại các thị trường trong và ngoài nước. Tại khu vực ĐBSCL, nơi có thế mạnh về nông nghiệp với sản lượng nông sản lớn, doanh nghiệp và cơ quan quản lý đã sẵn sàng cho việc này như thế nào?
Truy xuất nguồn gốc nông sản: Điều kiện bắt buộc để giữ cửa xuất khẩu
Dẫn phóng viên dạo quanh khu vườn rộng 7.000 mét vuông đang trồng Thanh Nhãn của mình, anh Nguyễn Hoàng Anh (ngụ xã Thới Hưng, TP. Cần Thơ) cho biết, trái Thanh Nhãn này được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và Australia. Với giá bán dao động từ 20.000 - 25.000 đồng/kg, đã mang về thu nhập ổn định cho nông hộ.
Khi hay tin doanh nghiệp phải khai báo thông tin sản phẩm trên hệ thống TXNG quốc gia, anh tự tin vườn nhãn của mình sẵn sàng đáp ứng yêu cầu này. Trong tiêu chuẩn trồng nhãn xuất khẩu, vườn của anh đã có mã số vùng trồng và truy xuất được nguồn gốc để “xuất ngoại”:
“Làm về xuất khẩu theo quy trình của xuất khẩu chứ không phải mình muốn làm gì cũng được, để xây dựng thương hiệu của mình phải sản xuất theo tiêu chuẩn. Mỗi một thị trường đòi hỏi quy trình khác nhau, muốn thị trường đi Mỹ phải làm nhãn cho chất lượng. Nếu muốn xuất thị trường châu Âu phải làm theo tiêu chuẩn VietGap, theo quy trình mới xuất được đi chứ không phải nhãn nào trồng sao thì trồng”, anh Nguyễn Hoàng Anh cho biết.
Theo Bộ NN&MT, hệ thống truy xuất quốc gia đã cập nhật thông tin cho khoảng 18.000 sản phẩm thuộc 112 nhóm sản phẩm khác nhau. Hiện hệ thống đã phủ rộng 26 trên tổng số 34 tỉnh, thành phố được khảo sát, bao gồm 919 lô hàng, 547 nông hộ, 255 vùng trồng và 149 doanh nghiệp. Hệ thống TXNG không được xây dựng biệt lập mà tích hợp chặt chẽ, dự kiến kết nối với 7 cơ sở dữ liệu chuyên ngành lớn của Bộ, bao gồm: mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, cơ sở chăn nuôi, cơ sở chế biến thủy sản và các dữ liệu quản lý khác.
Thông qua hệ thống truy xuất, người tiêu dùng có thể tra cứu ễn phí các thông tin cơ bản của sản phẩm, hàng hóa như tên sản phẩm, hình ảnh, đơn vị sản xuất hoặc kinh doanh, địa chỉ doanh nghiệp, thương hiệu, nhãn hiệu, số lô sản xuất, số sê-ri và hạn sử dụng (nếu có).
Ông Phan Quốc Nam - Giám đốc kinh doanh công ty cổ phần xuất nhập khẩu thương mại Blue Ocean (Doanh nghiệp đầu tiên đưa trái bưởi tươi Việt Nam xuất khẩu chính ngạch sang thị trường Australia) có trụ sở tại tỉnh Đồng Tháp nhận định rằng, yêu cầu này là cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh, doanh nghiệp ở ĐBSCL đáp ứng được để giữ khách hàng lâu dài:
“Xây dựng được cơ sở dữ liệu về mã vùng trồng, cơ sở đóng gói để truy xuất nguồn gốc không chỉ quan trọng với doanh nghiệp mà còn với các hộ nông dân liên kết. Khi có những yêu cầu mới phát sinh của các thị trường nhập khẩu, cơ quan quản lý Nhà nước có thể cập nhật và thông tin đến doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp thông tin và hướng dẫn nông dân sản xuất đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu”.
Minh bạch chuỗi cung ứng – "tấm visa" vào thị trường khó tính
Nhận thấy những lợi ích từ hệ thống này, các địa phương ở ĐBSCL tích cực vận động doanh nghiệp thuộc diện không bắt buộc nên tham gia. Bà Huỳnh Ngọc Dũng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, chế biến và Phát triển thị trường (Sở NN&MT thành phố Cần Thơ) cho biết, đơn vị đã thông báo các quy định mới đối với các hợp tác xã, cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản:
“Hướng dẫn thương nhân chuẩn bị đầy đủ thông tin gốc: tên hàng, xuất xứ, hình ảnh, số lô, hạn sử dụng, và thông tin đơn vị sản xuất/nhập khẩu. Đối với các doanh nghiệp đã có hệ thống truy xuất riêng, chúng tôi hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn quy trình kết nối API từ phần mềm nội bộ lên cổng tập trung VeriGoods để đảm bảo đồng bộ dữ liệu tự động. Yêu cầu các thương nhân chuẩn bị sẵn sổ sách, chứng từ kiểm dịch, tài liệu chứng nh xuất xứ để có thể nhập liệu thông tin nhanh chóng, chính xác trước khi đưa hàng hóa vào phân phối”.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên – Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, việc số hóa thông tin, nh bạch chuỗi cung ứng và dán tem truy xuất (như mã QR) là yêu cầu cốt lõi để thâm nhập các thị trường khó tính. Mặc dù khi thực hiện việc truy xuất nguồn gốc này đi kèm với những phát sinh, như: phân công nhân sự ghi chép, cải tiến quy trình sản xuất bài bản,… sẽ làm tăng chi phí đầu tư. Tuy nhiên, không tiếc công sức đầu tư vì “bỏ ra 1 thu vào 3”, truy xuất nguồn gốc sẽ giúp nâng cao chất lượng hàng hóa, mức tiêu thụ sản phẩm sẽ tăng lên:
“Thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản đặc biệt là đối với rau – củ - quả xuất khẩu nó không còn là sự lựa chọn “có thì tốt”, mà nó là sự bắt buộc. Đây là một tấm vé, hay còn gọi là “visa” để xuất khẩu chính ngạch sang thị trường lớn. Việc truy xuất nguồn gốc này sẽ giúp cho doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ tính pháp lý theo quy định của các nước nhập khẩu. Sản phẩm có “lý lịch” rõ ràng từ: trồng trọt, thu hoạch, đóng gói,…sẽ có giá trị cao hơn, giúp khách hàng tin tưởng sử dụng mặt hàng của mình nhiều hơn”.
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của cả nước, đóng góp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu, 65% sản lượng thủy sản và gần 70% sản lượng trái cây xuất khẩu của Việt Nam.
Nâng chuẩn chất lượng, hoàn thiện truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, chủ động nắm bắt các quy định của thị trường nhập khẩu và nâng cao năng lực ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại chính là “tấm hộ chiếu” để nông sản ĐBSCL tiếp tục chinh phục những thị trường khó tính và khẳng định vị thế trên thị trường thế giới.