Hà Nội - 02437919191    TP. Hồ Chí Minh - 02839919191    MekongFM - 02838309090
  • Hà Nội - 02437919191   
  • TP. Hồ Chí Minh - 02839919191   
  • MekongFM - 02838309090   
Thống nhất dữ liệu - “La bàn” cho đại hải trình của thủy sản Việt Nam Thống nhất dữ liệu - “La bàn” cho đại hải trình của thủy sản Việt Nam
Nhóm PV   •   8:25 08/02/2026

Chúng ta đã có những đội tàu vỏ thép vươn khơi xa. Chúng ta có những nghị định, văn bản chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ. Nhưng tại sao, con đường gỡ “thẻ vàng” vẫn còn gian nan? Tại sao những chuyến tàu về bến vẫn mang theo nỗi lo âu về thủ tục, về những án phạt lơ lửng?

Câu trả lời không chỉ nằm ở ngoài khơi xa, mà nằm ngay trong "huyết mạch" của hệ thống quản lý: Đó là dữ liệu. Khi dữ liệu bị đứt gãy, tàu cá trở nên "vô hình" trước cơ quan quản lý. Khi dữ liệu bị phân mảnh, nguồn gốc con cá trở nên mờ mịt trên bàn ăn quốc tế. Và khi ngư dân lạc lối trong một "ma trận" công nghệ, giấc mơ về một cường quốc biển sẽ bị kìm hãm.

Để giải mã những "nút thắt" này và tìm ra lời giải cho bài toán số hóa nghề cá, nhóm phóng viên Kênh VOV Giao thông Duyên hải, Ban VOV Giao thông Quốc gia đã thực hiện chuyến khảo sát dọc các tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, lắng nghe tiếng nói từ những người trong cuộc.

Cảng cá Lạch Quèn (Nghệ An) những ngày cao điểm chống IUU. Hơn 700 tàu cá ra vào, mang theo hy vọng về những khoang cá đầy. Nhưng niềm vui cập bến nhanh chóng bị thay thế bằng sự lo lắng tại bàn làm thủ tục.

Thuyền trưởng Hồ Văn Thịnh (Xã Quỳnh Phú, Nghệ An) chia sẻ, sau khi làm thủ tục tại đồn biên phòng, anh và các đồng nghiệp tiếp tục thực hiện khai báo tại bộ phận kiểm soát ở cảng cá. Nỗi lo đầu tiên là phải thao tác và khai báo qua nhiều phần mềm, ứng dụng:

"Trên máy của em một phần mềm bên của Bách Khoa là giám sát hành trình, một phần mềm bên của nhật ký điện tử, một phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản eCDT của tàu cá. Cũng phải trên 3 cái".

Đồng cảm với bà con ngư dân, anh Trần Quang Khải, nhân viên cảng cá Lạch Quèn, người trực tiếp hỗ trợ giấy tờ cho ngư dân, cũng phải thực hiện một quy trình "số hóa" nhưng lại rất... thủ công. Để làm thủ tục cho một con tàu, anh phải mở cùng lúc 4 cửa sổ trên màn hình máy tính.

"Qua máy thì hiện tại bây giờ có: Thứ nhất là hệ thống VNFishbase dữ liệu tàu cá quốc gia. Thứ hai là hệ thống giám sát tàu cá (VMS). Thứ ba là một bảng tính Google Sheets. Và thứ tư là hệ thống truy xuất nguồn gốc eCDT. Đó là 4 cái đang thực hiện bằng máy tính. Tuy nhiên, ở ngoài cầu cảng vẫn còn hồ sơ giấy, nhật ký khai thác phải in ra. Thao tác thực hiện nhiệm vụ tương đối mất thời gian, mất thêm nhân công nhân lực. Mong muốn của mình là Cục Thủy sản có thể gom lại thành một".

"Ma trận" phần mềm này không chỉ làm khổ nhân viên cảng mà còn gây ra một lỗ hổng lớn trong quản lý nhà nước: Sự không đồng nhất về dữ liệu.

Ông Phan Tiến Chương, Giám đốc Ban quản lý Cảng cá Nghệ An, người chịu trách nhiệm cao nhất trong khâu kiểm soát "đầu vào" và "đầu ra" tại các cảng cá địa phương, đã thẳng thắn chỉ ra sự "vênh" nhau đáng báo động giữa dữ liệu của ngành Nông nghiệp và ngành Quốc phòng.

"Dữ liệu tàu cá khi cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra hoặc trích xuất báo cáo thì số liệu nó sẽ vênh nhau, vênh nhau rất lớn. Ví dụ hôm nay tàu cá xuất nhập cảng Nghệ An có thể 40-50 chiếc, nhưng dữ liệu ở lực lượng Biên phòng có thể nhiều hơn hoặc ít hơn. Bởi vì nhiều tàu làm thủ tục nhập lạch ngay đầu cửa trạm Biên phòng nhưng chưa vào cảng mà chạy về bến cá tư nhân. Do quá nhiều phần mềm, do quá nhiều cơ quan nhập liệu riêng lẻ nên nó không đồng bộ".

Không chỉ tại Nghệ An, tình trạng "lệch pha" giữa thực tế và dữ liệu giám sát cũng đang làm đau đầu lực lượng chức năng tại Thanh Hóa. Việc xác định một con tàu mất kết nối là do cố tình hay do lỗi khách quan trở thành một bài toán khó giải.

Ông Đinh Tiến Đạt, Phụ trách Cảng cá Lạch Bạng (Thanh Hóa) thừa nhận, nhiều trường hợp hệ thống báo lỗi, nhưng thực chất là do hạ tầng vệ tinh không ổn định.

"Nguyên nhân mất kết nối thì cơ bản ở đây chủ yếu cũng là do lỗi khách quan và lỗi hệ thống. Tức là trên cái hệ thống vệ tinh, tiếp nhận sóng không được, nhiều lúc không thu được sóng. Nếu như do thiết bị hoặc là do sóng không thể thu được tín hiệu thì cái đấy là lỗi khách quan. Còn nếu như do chủ quan của chủ tàu thì về việc tự ý ngắt, cái đấy phải điều tra xác minh rất vất vả."

Nếu trên bờ là khó khăn về đối soát dữ liệu, thì ngoài khơi, ngư dân đang đối mặt với một rủi ro pháp lý lớn hơn nhiều: Sự thay đổi đột ngột của hạ tầng công nghệ.

Tại Ninh Bình, ông Nguyễn Xuân Tới - Trạm trưởng Trạm Thủy sản số 2, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Ninh Bình cho biết, việc từ tháng 11/2025 một nhà mạng lớn đột ngột ngừng cung cấp dịch vụ giám sát hành trình đã khiến cả cơ quan quản lý và ngư dân rơi vào thế bị động, dẫn đến tình trạng "tàu chưa về bờ nhưng tín hiệu đã tắt". Nguyên nhân được chính nhà mạng này thừa nhận, là sự cố vệ tinh làm gián đoạn truyền dẫn, khiến tín hiệu thiết bị mất ổn định.

"VNPT ngừng cung cấp tín hiệu thiết bị giám sát hành trình buộc các cái chủ tàu phải lắp thiết bị khác thay thế. Một số chủ tàu lắp thiết bị của VNPT thì trong chuyến biển chưa kịp về để lắp thêm thiết bị thay thế, cũng có một vài trường hợp chủ tàu mất tín hiệu kết nối. Đây là khó khăn thực tế."

Ông Đinh Tiến Đạt, Phụ trách Cảng cá Lạch Bạng (Thanh Hóa)

Ông Đinh Tiến Đạt, Phụ trách Cảng cá Lạch Bạng (Thanh Hóa)

Thiết bị không đồng bộ, nhà mạng dừng sóng, phần mềm chồng chéo... Tất cả tạo nên tình trạng tản mác, thiếu thống nhất về dữ liệu.

Theo thống kê từ Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An, có thời điểm khoảng 60% tàu cá tại địa phương này sử dụng thiết bị giám sát tàu cá (VMS) chưa đạt chuẩn theo Nghị định 37/2024. Ông Mai Hồng Phong, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Nghệ An e ngại, điều này tạo rào cản lớn cho công tác thực thi pháp luật.

"Khó khăn thứ nhất là những tàu dùng thiết bị không đạt chuẩn thì tín hiệu cảnh báo yếu hoặc không có. Khi mất kết nối, ngư dân không biết để khắc phục trong vòng 6 tiếng. Khó khăn thứ hai là công tác xác minh. Để xử lý được hành vi mất kết nối, cần quá trình điều tra xác minh rất phức tạp: Phải mời chủ tàu lên, phải gửi văn bản cho nhà mạng xem lỗi do vệ tinh hay do vùng nhiễu sóng. Có những nhà mạng trả lời rất chung chung, khiến việc khép hồ sơ xử phạt gặp nhiều trở ngại."

Sự chập chờn của thiết bị đã đẩy nhiều ngư dân vào tình cảnh "tình ngay lý gian". Ngư dân Hồ Đức Tạo ở xã Quỳnh Phú, Nghệ An vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại án phạt 25 triệu đồng vì mất tín hiệu quá 6 tiếng, dù anh khẳng định đó là lỗi nhà mạng.

"Quan trọng là do nhà mạng. Mất tín hiệu từ năm ngoái, cứ mất 6 tiếng rồi lại tự có. Có khi chạy về đến cảng luôn rồi mới có lại. Năm ngoái tôi bị xử phạt 25 triệu. Giờ thay máy mới của Bách Khoa thì ổn định hơn được 2 tháng nay. Nguyện vọng của chúng tôi là làm răng cho cái nhà mạng ổn định để ngư dân đi máy giám sát không bị mất tín hiệu 24/24".

Ngư dân Hồ Đức Tạo ở xã Quỳnh Phú, Nghệ An vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại án phạt 25 triệu đồng vì mất tín hiệu quá 6 tiếng, dù anh khẳng định đó là lỗi nhà mạng

Ngư dân Hồ Đức Tạo ở xã Quỳnh Phú, Nghệ An vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại án phạt 25 triệu đồng vì mất tín hiệu quá 6 tiếng, dù anh khẳng định đó là lỗi nhà mạng

Tại Thanh Hóa, tình trạng cũng không khả quan hơn. Ngư dân Nguyễn Thành Khôi bức xúc khi thiết bị mới lắp, tiền cước đã đóng, nhưng tàu chưa kịp ra khơi đã báo mất tín hiệu.

"Đây là thiết bị mới đàng hoàng, 100% thiết bị mới mà chúng em chưa xuất bến, chưa ra ngoài biển hoạt động đã mất tín hiệu trong bờ rồi! Tin nhắn báo về điện thoại là mất kết nối. Rất chi là bất cập! Chúng em chỉ đánh bắt trong nội quy, nhưng thiết bị thế này rất khó".

Một con tàu ra khơi cần la bàn để định hướng. Nhưng hiện tại, chiếc "la bàn số" của chúng ta đang bị nhiễu động bởi sự phân mảnh dữ liệu và chất lượng thiết bị không đồng đều. Ngư dân phải cài đặt quá nhiều ứng dụng, kê khai trùng lặp, dẫn đến sai sót và tâm lý đối phó.

Nếu không giải quyết được bài toán hạ tầng này, việc truy xuất nguồn gốc và giám sát IUU sẽ mãi là cuộc rượt đuổi không hồi kết. Tuy nhiên, trong khó khăn, những sáng kiến từ cơ sở đang bắt đầu nhen nhóm.

Trước những thách thức ngư dân phải đối mặt về mặt thủ tục, nhập liệu, sử dụng phần mềm, dữ liệu thiếu liên thông, các địa phương từ Ninh Bình, Thanh Hóa đến Nghệ An đã không ngồi chờ một phần mềm hoàn hảo từ Trung ương, họ chủ động cải tiến phần mềm dễ hiểu hơn cho ngư dân, lập các tổ công tác "cầm tay chỉ việc" xuyên đêm, truyền tải thông điệp: Công nghệ không phải để đánh đố, mà là để phục vụ.

Cảng cá Ninh Cơ (Ninh Bình) vào một buổi trưa nắng gắt. Tại văn phòng Ban quản lý, không khí làm việc vẫn hối hả suốt từ tờ mờ sáng. Một thực tế nan giải mà Ninh Bình cũng như nhiều địa phương khác phải đối mặt: Đó là "độ chênh" về trình độ công nghệ.

Nhiều chủ tàu là những "sói biển" dạn dày sương gió, thuộc làu từng luồng lạch, nhưng lại lóng ngóng trước màn hình máy tính, điện thoại thông minh. Bắt họ tự tải ứng dụng, tự khai báo 4-5 trường dữ liệu là một "nhiệm vụ bất khả thi".

Hiểu rõ điều này, ông Nguyễn Thành Trung - Giám đốc Ban quản lý Cảng cá Ninh Bình đã chọn cách làm "lấy cần cù bù công nghệ". Thay vì trả hồ sơ chưa hợp lệ, cảng đã thành lập các tổ cán bộ hỗ trợ tận tình. Phương châm là: Làm hộ trước, hướng dẫn sau, với mục tiêu giải quyết nhanh gọn, không để ứ đọng hồ sơ, chậm trễ các chuyến ra khơi.

"Thú thực là một số bà con chưa có điện thoại thông minh hoặc thực hiện chưa thành thạo. Giai đoạn đầu rất vất vả, chúng tôi bố trí cán bộ thường trực 24/24, cập nhật giúp cho bà con tất cả các trường thông tin. Chúng tôi quyết tâm hỗ trợ tối đa. Lần đầu nhập liệu mất thời gian, nhưng lần sau bà con vào thì thông tin tàu, giấy phép đã có sẵn trên hệ thống, chỉ cần tích chọn là xong, rất nhanh".

Nếu Ninh Bình chọn giải pháp tạm thời là tăng cường nhân sự làm thủ công, thì tại Nghệ An - địa phương có đội tàu lớn nhất nhì cả nước - cách làm này thực sự là không xuể! Có những vùng, tỷ lệ ngư dân không biết chữ chiếm con số không nhỏ. Với họ, nhật ký điện tử eCDT toàn chữ là chữ chẳng khác nào một văn bản… mật mã.

Ông Phan Tiến Chương, Giám đốc Ban quản lý Cảng cá Nghệ An đã trăn trở rất nhiều. Ông nhận ra rằng: Muốn dân dùng, phần mềm phải "nói tiếng của dân", phải tư duy theo cách của người đi biển.

"Đối với những vùng mà ngư dân không biết chữ chiếm tỷ lệ lớn, chúng tôi hướng tới nút bấm hình ảnh. Ngư dân không đọc được chữ thì nhìn hình ảnh con cá thu là biết được, chỉ có nhiệm vụ ấn nút buông lưới, thu lưới. Hơn thế nữa, chúng tôi đang đặt hàng các nhà cung cấp viết phần mềm nhập dữ liệu bằng giọng nói. Ví dụ chỉ cần nói vào điện thoại: 'mẻ một 5 tấn', 'mẻ hai 3 tấn' là máy tự nhập. Phải làm thế dân mới làm được, mới đồng bộ được".

Ông Phan Tiến Chương, Giám đốc Ban quản lý Cảng cá Nghệ An đã trăn trở rất nhiều. Ông nhận ra rằng: Muốn dân dùng, phần mềm phải 'nói tiếng của dân', phải tư duy theo cách của người đi biển.

Ông Phan Tiến Chương, Giám đốc Ban quản lý Cảng cá Nghệ An đã trăn trở rất nhiều. Ông nhận ra rằng: Muốn dân dùng, phần mềm phải "nói tiếng của dân", phải tư duy theo cách của người đi biển.

Thực tế tại Cảng cá Lạch Quèn, nơi hàng trăm con tàu cập bến mỗi ngày, ông Hồ Anh Sơn - Phụ trách cảng khẳng định: Việc chuyển đổi số đang thực sự gỡ rối cho ngư dân khỏi những thủ tục giấy tờ rườm rà, đặc biệt là với những người hạn chế về con chữ.

"Khi chép trên nhật ký thủ công bằng tay thì có những người họ biết chữ, có những người họ không biết chữ thì rất là khó khăn. Nhưng sắp tới chuyển đổi được cái nhật ký điện tử thì nó sẽ mang lại hiệu quả cho dân rất là cao, rút ngắn thời gian và độ chính xác của dữ liệu ở trên biển rất là lớn".

"Bấm vào hình con cá", "nhập liệu bằng giọng nói" hay "xóa bỏ ghi chép tay" - những thay đổi tưởng chừng đơn giản ấy lại đang mang lại hiệu quả bất ngờ. Thuyền trưởng Hồ Văn Thịnh (xã Quỳnh Phú, Nghệ An), người đang sở hữu một chiếc tàu cá lớn, hào hứng chia sẻ về trải nghiệm "số hóa" của mình. Với anh, chiếc điện thoại giờ đây quan trọng không kém gì tay lái.

"Em thấy nhật ký điện tử làm rất mau gọn, khỏi bị rườm rà. Mình đánh bắt con gì chỉ cần nhìn vô điện thoại bấm là được, có hình con cá hố, con cá chim, ai cũng dùng được cả. Chứ viết giấy nhiều khi chữ xấu không đọc được, sóng lắc viết không nổi. Em còn dùng ứng dụng giám sát hành trình để vợ ở nhà theo dõi, mất tín hiệu là vợ điện báo ngay ra biển để em khắc phục, đỡ bị phạt oan".

Thuyền trưởng Hồ Văn Thịnh (xã Quỳnh Phú, Nghệ An), người đang sở hữu một chiếc tàu cá lớn, hào hứng chia sẻ về trải nghiệm 'số hóa' của mình

Thuyền trưởng Hồ Văn Thịnh (xã Quỳnh Phú, Nghệ An), người đang sở hữu một chiếc tàu cá lớn, hào hứng chia sẻ về trải nghiệm "số hóa" của mình

Bên cạnh nỗ lực của cơ quan quản lý, các doanh nghiệp công nghệ cũng không đứng ngoài cuộc. Ông Hà Quang Thành, Chủ tịch Công ty Định vị Bách Khoa cho biết, thiết bị giám sát hành trình giờ đây không chỉ là máy định vị vô tri. Nó đang được tích hợp để trở thành "trợ lý số" của ngư dân, chịu được môi trường khắc nghiệt nhất, và quan trọng nhất là giảm thiểu những lần “mất sóng” không rõ nguyên nhân, tránh việc mất mát dữ liệu mà không ai chịu trách nhiệm. Tất cả được tích hợp vào cùng một thiết bị chuẩn mới và các hệ thống sẽ truy xuất để lấy dữ liệu dùng chung.

"Chúng tôi thiết kế thiết bị theo chuẩn quân sự, chịu được nước mặn và rung lắc. Nhưng quan trọng hơn, chúng tôi đề xuất tận dụng ngay thiết bị này để làm nhật ký khai thác điện tử. Dữ liệu vị trí có sẵn, ngư dân không cần nhập lại tọa độ, giảm thiểu sai sót và chi phí. Đó là nguồn tài nguyên dữ liệu chính xác nhất phục vụ cho Cục Thủy sản và Kiểm ngư”.

Công nghệ dẫu có hiện đại đến đâu cũng chỉ là công cụ. Động lực lớn nhất để ngư dân tự nguyện minh bạch hóa dữ liệu chính là: Lợi ích kinh tế bền vững.

Tại Thanh Hóa, câu chuyện của doanh nghiệp xuất khẩu đã chứng minh: Dữ liệu sạch chính là tiền. Ông Trịnh Ngọc Nam, Phó Giám đốc một công ty xuất khẩu thủy sản cho biết, những con mực có dữ liệu truy xuất nguồn gốc rõ ràng đã đường hoàng bước vào thị trường Nhật Bản để làm món Sushi cao cấp, với mức giá mà trước đây đánh bắt kiểu "mù mờ" không bao giờ có được.

"Năm 2025 này, nhận thức của chủ tàu thay đổi rõ rệt. Chúng tôi về cảng, kết hợp với chủ tàu phân luồng nguyên liệu ngay từ đầu. Những con mực đạt chuẩn ăn sống xuất khẩu đi Nhật, có xác nhận nguồn gốc hợp pháp, chúng tôi ưu tiên thu mua với giá rất tốt. Nhờ nguồn nguyên liệu sạch và minh bạch này, doanh thu công ty năm nay dự kiến đạt hơn 100 tỷ đồng. Bà con thấy lợi ích thực tế là họ làm theo ngay."

Ông Trịnh Ngọc Nam, Phó Giám đốc một công ty xuất khẩu thủy sản cho biết, những con mực có dữ liệu truy xuất nguồn gốc rõ ràng đã đường hoàng bước vào thị trường Nhật Bản để làm món Sushi cao cấp, với mức giá mà trước đây đánh bắt kiểu 'mù mờ' không bao giờ có được

Ông Trịnh Ngọc Nam, Phó Giám đốc một công ty xuất khẩu thủy sản cho biết, những con mực có dữ liệu truy xuất nguồn gốc rõ ràng đã đường hoàng bước vào thị trường Nhật Bản để làm món Sushi cao cấp, với mức giá mà trước đây đánh bắt kiểu "mù mờ" không bao giờ có được

Để tiếp sức cho ngư dân trong cuộc chuyển đổi này, chính sách hỗ trợ tài chính cũng được triển khai kịp thời. Ông Hoàng Mạnh Hà - Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiêm ngư Ninh Bình cho biết, tỉnh không để ngư dân "đơn độc" gánh vác chi phí thiết bị.

"Từ năm 2022, chúng tôi đã có chính sách hỗ trợ mỗi chủ tàu khi lắp thiết bị giám sát hành trình là 50% kinh phí. Tới đây, chúng tôi đang trình HĐND tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ thay thế và nâng cấp thiết bị giám sát hành trình để đáp ứng điều kiện theo Nghị định 37/2024, giúp bà con giảm bớt gánh nặng tài chính, yên tâm vươn khơi."

Từ những "nút bấm hình con cá" ở Nghệ An, tổ hỗ trợ 24/7 ở Ninh Bình, đến những con mực xuất khẩu giá cao ở Thanh Hóa. Tất cả cho thấy: Khi công nghệ được "may đo" phù hợp với thực tiễn, và khi lợi ích của ngư dân được đặt vào trung tâm, thì những rào cản về trình độ hay thói quen đều có thể vượt qua.

Những sáng kiến từ cơ sở này chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên nền móng của một nghề cá hiện đại, có trách nhiệm. Tuy nhiên, để những viên gạch ấy kết nối thành một tòa nhà vững chãi, cần một "bản thiết kế" tổng thể tầm cỡ quốc gia.

Một chặng đường dài đầy sóng gió của ngành thủy sản Việt Nam kể từ khi bị gắn với chiếc "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu (EC) về khai thác thủy sản không báo cáo, không theo quy định (IUU). Xuyên suốt loạt phóng sự, chúng ta nghe thấy nỗi lo âu của ngư dân khi lạc lối trong "ma trận" ứng dụng và khó khăn của nhà quản lý trước những dòng dữ liệu đứt gãy; đã nghe được các sáng kiến tại địa phương trong nỗ lực cải thiện phần mềm, những nỗ lực "lấy cần cù bù công nghệ" để gỡ khó cho bà con.

Nhưng cần thừa nhận, những lời giải nhỏ lẻ ấy chưa đủ để giải quyết bài toán lớn của ngành thủy sản. Để con tôm, con cá Việt Nam đường hoàng vươn ra biển lớn, để gỡ bỏ hoàn toàn “thẻ vàng”, chúng ta cần một “chiếc la bàn” chung, một nền tảng thống nhất. Đó chính là DỮ LIỆU LỚN (Big Data). Đây không chỉ là công cụ quản lý, mà chính là tấm "giấy thông hành" cho tương lai của thủy sản Việt Nam.

Quay ngược thời gian 9 năm về trước, vào năm 2017, lý do khiến Ủy ban châu Âu (EC) áp “thẻ vàng” với thủy sản Việt Nam không chỉ vì chúng ta đánh bắt sai vùng. Căn nguyên sâu xa nằm ở sự "mù mờ" về nguồn gốc. Một con cá lên mâm cơm ở châu Âu, họ muốn biết nó được bắt bởi tàu nào? Ở tọa độ nào? Có đúng mùa vụ không? Trước đây, với cách quản lý thủ công, chúng ta không trả lời được những câu hỏi đó. Tàu đi đâu không ai hay, sản lượng bao nhiêu không ai kiểm chứng.

Trao đổi với phóng viên, ông Vũ Duyên Hải - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) giải thích rõ hơn về yêu cầu khắt khe này. Thực chất, EC muốn ăn con cá "sạch". Sạch ở đây không chỉ là vệ sinh, mà là sạch về pháp lý. Để trả lời cho câu hỏi "Con cá này từ đâu ra?", Việt Nam đang thực hiện một cuộc “đại phẫu” về dữ liệu.

"Chúng tôi thừa nhận do lịch sử phát triển, chúng ta có nhiều cơ sở dữ liệu ở các giai đoạn khác nhau: phần mềm giám sát hành trình VMS, cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VNFishbase, Hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử eCDT, hệ thống xử phạt vi phạm hành chính... dẫn đến chưa liên thông tốt. Trong thời gian qua, với chỉ đạo của Thủ tướng, chúng tôi đã tiến hành nâng cấp. VNFishbase hiện đã kết nối được với dữ liệu Bộ đội biên phòng, với eCDT, đáp ứng được 6 tiêu chí “Đúng-đủ-sống-sạch-thống nhất-dùng chung toàn hệ thống”. Chắc chắn trong thời gian sắp tới, khi chúng tôi được phê duyệt đề án nâng cấp, đồng bộ toàn bộ cơ sở dữ liệu quản lý ngành thủy sản, trong đó có 2 chuỗi: chuỗi đuôi và chuỗi khai thác, sẽ có hệ thống đồng bộ toàn trình có thể chia sẻ, thống nhất dùng chung trên toàn quốc”.

"Tất cả cùng nhìn thấy một dữ liệu" - điều này có nghĩa là chấm dứt cảnh ngư dân phải chạy đôn chạy đáo nộp giấy tờ cho 3-4 cơ quan. Ngư dân chỉ cần nhập số đăng ký của một tàu vào eCDT, sẽ biết thông tin toàn bộ tàu đấy có giấy phép, an toàn hay chưa.

Nhưng một bước ngoặt lớn hơn, mang tính cách mạng trong đợt cao điểm này, chính là sự tham gia của Bộ Công an với Đề án 06.

Trong các cuộc họp toàn quốc về công tác chống IUU, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đều nhấn mạnh thông điệp của Chính phủ: “Dữ liệu phải Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, sẽ không còn chỗ cho sự cát cứ, không còn chỗ cho những con số nằm trên giấy, dữ liệu phải là dòng chảy xuyên suốt từ con tàu ngoài khơi về đến bàn làm việc của các bộ ngành. Trung ương đã nhận diện khó khăn và đưa ra giải pháp tổng thể: liên thông giữa Cảng cá - Biên phòng và Công an.

Lần đầu tiên, dữ liệu nghề cá sẽ được "khớp lệnh" với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (VNeID). Đây là tư duy quản lý mới: Quản lý con người để quản lý con tàu. Theo ông Vũ Duyên Hải, nếu eCDT giúp thông suốt thủ tục, thì VNeID được kỳ vọng bịt kín lỗ hổng quản lý con người:

"Đây là điểm mấu chốt. Tất cả số liệu tàu cá ra vào cảng, bao nhiêu người đi trên tàu đều được liên kết với cơ sở dữ liệu dân cư. Ông chủ tàu, ông thuyền trưởng, từng thuyền viên đã được định danh trên VNeID. Nếu ai vi phạm, cơ quan thực thi pháp luật cứ vào VNeID là quản lý được, giúp việc thực thi pháp luật tốt hơn. Bản chất chống khai thác bất hợp pháp là quản lý con người vi phạm chứ không phải con tàu".

Ông Vũ Duyên Hải - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, nếu eCDT giúp thông suốt thủ tục, thì VNeID được kỳ vọng bịt kín lỗ hổng quản lý con người

Ông Vũ Duyên Hải - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, nếu eCDT giúp thông suốt thủ tục, thì VNeID được kỳ vọng bịt kín lỗ hổng quản lý con người

Khi dữ liệu được đồng bộ, sẽ tạo ra một nguồn tài nguyên khổng lồ - hay còn gọi là Big Data. Ông Hà Quang Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Định vị Bách Khoa, một đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ, cho biết: Họ đang sẵn sàng chuyển đổi vai trò, từ người bán thiết bị giám sát trở thành người xây dựng kho dữ liệu quốc gia.

"Nghị định 37 năm 2024 đã nâng cấp một số tính năng đặc biệt. Các thiết bị mới hiện nay phải đáp ứng điều kiện môi trường nước biển, chống nước và những cái cải tiến theo các TCVN của Việt Nam. Và đặc biệt hiện nay là các cái thiết bị đều phải trang bị các cái nguồn pin để có thể hoạt động khi dữ liệu điện áp, ắc quy của tàu trục trặc. Đây là những cải tiến khắc phục nhược điểm của Nghị định 26. Trên cơ sở chuẩn thiết bị mới, chúng tôi cũng đề nghị cho hợp tác và cho triển khai ngay dữ liệu trên thiết bị giám sát hành trình. Đây là tài nguyên có thể đưa sang nhật ký khai thác điện tử, phục vụ tốt cho dữ liệu lớn của ngành thủy sản Việt Nam”.

Ông Hà Quang Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Định vị Bách Khoa, đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ

Ông Hà Quang Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Định vị Bách Khoa, đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ

"Dữ liệu lớn" nghe có vẻ vĩ mô, nhưng tác động của nó rất cụ thể, tới từng những khoang thuyền, vụ thu hoạch của ngư dân và doanh nghiệp.

Tại Thanh Hóa, ông Trịnh Ngọc Nam - Phó Giám đốc công ty xuất nhập khẩu thủy sản chỉ ra một thực tế đau lòng trước đây: Dù có biển, có tàu, nhưng doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu vì tàu nhà đánh bắt không minh bạch, không ai dám mua. Nhưng nay, dữ liệu sạch đã thay đổi tất cả. Đây chính là "tấm vé thông hành" để hàng Việt thay thế hàng ngoại.

"Doanh thu thì như năm 2025 thì doanh thu của bên mình là từ 100 đến 110 tỷ đồng. Đa số những năm trước do đánh bắt thủy sản không báo cáo, không theo quy định (IUU), các cảng chưa xác nhận được nguồn gốc đánh bắt nên đa số là chúng tôi phải nhập khẩu nguyên liệu 100%. Nhưng năm 2025 trở lại đây, nhờ sự quản lý và ý thức chủ tàu, các cảng đã xác nhận được nguồn gốc đánh bắt hợp pháp. Cho nên năm nay chúng tôi sản xuất nguyên liệu mực của Việt Nam, dẫn đến bà con cũng có thu nhập cao hơn".

Hành trình gỡ “thẻ vàng” không chỉ là để đối phó với EC. Mục tiêu là một nền nghề cá hiện đại. Ông Hoàng Mạnh Hà, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư tỉnh Ninh Bình, chia sẻ về tầm nhìn dài hạn: Gỡ thẻ vàng xong không có nghĩa là dừng lại, mà là để chuyển mình.

"Mục tiêu căn cơ của Chính phủ không chỉ là gỡ thẻ vàng, mà sau khi gỡ xong vẫn phải duy trì nề nếp để hiện đại hóa nghề cá. Đây là cơ hội lịch sử để chúng ta chuyển từ 'nghề cá nhân dân' manh mún thành 'nghề cá có trách nhiệm', khai thác thủy sản bền vững, bảo vệ nguồn lợi cho con cháu mai sau".

Dữ liệu, công nghệ hay chính sách, suy cho cùng đều hướng về một chủ thể: Ngư dân. Sau những ngày tháng "vừa đi biển vừa lo", giờ đây, khi nhìn thấy ánh sáng từ sự minh bạch, họ có những mong mỏi gì?

“Khi gặp khó khăn về tín hiệu, giấy tờ, ngư dân họ cũng có gọi qua xin được hướng dẫn. Chúng tôi mong muốn hỗ trợ của cấp trên nên tích hợp cái dữ liệu tàu cá và cái dữ liệu quốc gia để theo dõi sát sao”

“Tôi muốn các cấp các ngành là làm đúng nhiệm vụ cho ngư dân được thuận lợi đi biên suôn sẻ. Anh em về nhờ cả cấp các ngành là nhiều”.

“Làm sao các công ty nâng được giá lên thì ngư dân đập tiền đó vào nguyên liệu sẽ đỡ hơn. Con cá nâng từ 5 ngàn lên 7 ngàn, 10 ngàn, các công ty bán được thịnh hành, sản lượng cao thì sẽ tốt hơn”.

Những mong mỏi giản dị ấy của ngư dân: "Yên tâm bám biển, không lo bị phạt, bán cá được giá" – cũng chính là đích đến trong các quyết sách vĩ mô của Đảng và Nhà nước.

Nghị quyết số 36 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ mục tiêu: "Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn". Muốn vậy, chúng ta buộc phải chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên cạn kiệt sang tư duy kinh tế biển xanh và bền vững.

Đặc biệt, Chỉ thị số 32 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) đã nhấn mạnh: Đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa lâu dài. Cả hệ thống chính trị phải vào cuộc để bảo vệ hình ảnh, uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.

Thống nhất dữ liệu, vì thế, không chỉ là giải pháp kỹ thuật để gỡ chiếc "thẻ vàng". Đó là nền tảng quản trị quốc gia trên biển. Đó là cách chúng ta kiến tạo một môi trường minh bạch để kinh tế tư nhân – mà ở đây là hàng triệu hộ ngư dân và doanh nghiệp thủy sản – có thể đường hoàng vươn ra biển lớn.