Hà Nội - 02437919191    TP. Hồ Chí Minh - 02839919191    MekongFM - 02838309090
  • Hà Nội - 02437919191   
  • TP. Hồ Chí Minh - 02839919191   
  • MekongFM - 02838309090   
Sống++

Tết Đoan Ngọ – Ghé thăm xóm bánh ú hơn nửa thế kỷ giữa Sài Gòn

Ngọc Yến - Diễm Thuý: Thứ tư 17/06/2026, 14:30 (GMT+7)

Mỗi dịp Tết Đoan Ngọ, con hẻm nhỏ trên đường Phạm Thế Hiển (quận 8, TP.HCM cũ) lại rộn ràng, tất bật, không khí quen thuộc của xóm bánh ú lá tre – nơi những hộ dân vẫn bám nghề truyền thống, một món không thể thiếu trong ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch.

Xóm nhỏ đến nay đã tồn tại hơn 50 năm. Giữa nhịp sống hiện đại, những đôi tay thoăn thoắt gói bánh và những nồi nước sôi đỏ lửa suốt ngày đêm đã trở thành hình ảnh đặc trưng của một xóm nhỏ còn lưu giữ hương vị Tết Đoan Ngọ giữa lòng Sài Gòn.

Cuối tháng Tư, đầu tháng Năm âm lịch, bà con xóm hẻm 1130 Phạm Thế Hiển, quận 8 cũ, lại chộn rộn như chuẩn bị đón một mùa Tết mới. Nia, thúng xếp dọc con hẻm nhỏ. Đường, đậu, nếp chiếm trọn một góc nhà. Cứ thế, xóm nghề truyền thống bánh ú lá tre, loại bánh thường thấy vào Tết Đoan Ngọ, nhẹ nhàng tạo nên một màu sắc riêng giữa Sài Gòn rộng lớn.

Empty

Con hẻm nhỏ vẫn đặc trưng của văn hóa hẻm ở Sài Gòn, gần gũi, dung dị, thân tình đối đãi, đượm tình chòm xóm, những giá trị khiến người phương xa cứ ngỡ rất xa xỉ với vùng đất đô thị phương nam. Một buổi chiều đầu tháng Năm âm lịch, thời điểm xóm bánh ú lá tre rục rịch chuẩn bị máy móc, nguyên liệu cho hàng chục thiên bánh ú ra lò, chúng tôi hữu duyên gặp bà Bông, ngoài 70 tuổi, và đã hơn 60 năm bén duyên với chiếc bánh truyền thống.

Bà Bông kể: "Mấy chục năm về trước từ thời bà ngoại đến thời mẹ, giờ cô 70 rồi đó, hồi cô còn nhỏ là cô đi dúc nếp, là biết đến nay bao nhiêu năm rồi. Hồi đó có bốn năm lò, rồi dần dà truyền lại cho con cháu, cứ truyền truyền ra rồi tới giờ luôn. Bảy, tám tuổi là cô dúc nếp, chạy bưng nếp cho người ta gói".

Theo lời kể của bà Bông, nghề bánh ú lá tre không biết xuất hiện vào thời điểm chính xác nào, trong ký ức của bà, việc gói bánh bắt đầu từ ngày bà còn rất nhỏ, từng chi tiết để hình thành chiếc bánh truyền thống cứ thế in sâu vào tiềm thức của bà.

Bà Bông kể về quy trình gói bánh một cách rõ ràng, rành mạch: "Ngâm nếp 2 ngày 1 đêm, nếp đạt rồi mới bắt đầu gói. Đậu xanh thì ngâm nở, nở rồi vo, vo rồi nấu, nấu rồi táng ra trộn đường vô, rồi xào cho đến khi nhân tới mới thôi. Lá tre là xổ ra hết, xịt nước rồi dựng lên rồi xịt nước, đợi dịu lại rồi mình bỏ vô thùng, rồi lấy tấm bạt tấn lại, bỏ nước đá vô ướp chứ không lá sẽ bị chín, sẽ không gói được.

Dúc nếp, ngâm nếp, đãi nếp cho sạch, đãi thì phải đãi nhẹ tay chứ mạnh thì nếp nó gãy, cực lắm, xào nhân cũng cực, cái nào cũng cực, làm ra cái bánh cực khổ lắm. Nấu khoảng 2 tiếng là người ta trở bánh. Nấu nồi nào nồi nấy cả chục xâu, bánh chín rồi thì nhúng nước rồi treo cho ráo. Bắt đầu đếm lại xem xâu bánh đủ không rồi giao lại cho bạn hàng, gặp vấn đề gì thì bù cho người ta, đặt mà về thiếu bánh thì bán đâu có lời".

Thời gian chậm trôi, hòa cùng những đổi thay của thời cuộc, cách để chiếc bánh ú lá tre thành hình cũng có nhiều đổi khác. Nhìn xa xăm về phía cuối hẻm, bà Bông kể lại hình ảnh của những ngày tháng Năm âm lịch của năm cũ:

"Hồi đó nhà gói cả 7, 8 thiên, có khi cả chục thiên giao cho người ta. Ngồi dài dài dài dài gói vui lắm. Hồi đó, hai ba người xào, cực lắm, giờ nhờ có máy nên đỡ một chút. Hồi xưa nấu củi, đốt cháy phừng phừng, bây giờ người ta nấu gas, nấu hơn 3 tiếng bánh mới chín. Hồi xưa làm bánh nhỏ nhỏ, giờ làm bánh bự. Công thức thì không có nhiều thay đổi. Hồi xưa mua nước tro ở Bình Trị Đông, còn lá tre thì đi bẻ rồi chở về, giờ thì mình ngồi nhà mình đặt người ta".

Chiếc bánh ú lá tre cứ nhẹ nhàng xuất hiện trên mâm cúng Tết Đoan Ngọ của rất nhiều gia đình Việt (Ảnh: Báo Thanh niên)

Chiếc bánh ú lá tre cứ nhẹ nhàng xuất hiện trên mâm cúng Tết Đoan Ngọ của rất nhiều gia đình Việt (Ảnh: Báo Thanh niên)

Trong ký ức của bà Bông, khoảng hơn 60 năm về trước, cả xóm chỉ ba bốn lò làm chính, ngày qua ngày tiếng lành đồn xa, người từ khắp nẻo Sài Gòn tìm về mua bánh, số lượng lò bánh trong xóm bắt đầu tăng lên đến hơn chục. Bà con trong xóm chẳng nghĩ ngợi gì, cứ nhẹ nhàng truyền nghề làm bánh cho nhau, con cái đời sau giữ nếp gia đình, tiếp tục giữ nguyên cái nghề truyền thống, một năm tồn tại độ năm, bảy ngày.

Bà Bông vui vẻ kể thêm về không khí chộn rộn về xóm nghề ngày cận Tết giữa năm: "Vui lắm, làm nghề này cực lắm mà điều nếu không làm sẽ buồn. Vui là khi tới ngày gói người này người kia xúm lại gói vui vẻ. Khúc này nhà nào cũng biết gói, tới ngày đó là tập trung lại gói hết, có khi gói bỏ cơm. Tập trung làm hết, ai không biết gói thì vò nhân, kiếm tiền". 

Tiếp lời bà Bông, bà Hồng, tuổi ngoài 60, chủ một lò bánh ú lá tre lớn của xóm thong thả trải lòng, thời gian dường như đã bỏ quên lối vận hành của con xóm nhỏ, mỗi năm, các tiểu thương, bạn hàng vẫn tìm về đặt đơn với số lượng lớn, bà Hồng kể: "Lò thì bán đắt, chỉ có người bán lại, có khi đụng chợ thì người ta bán hơi khó khăn, cũng tội nghiệp, chuyến nào hút thì cũng mừng cho những người mua bán, mình lò thì lúc nào cũng hết sạch sẽ". 

Chiếc bánh ú lá tre cứ nhẹ nhàng xuất hiện trên mâm cúng Tết Đoan Ngọ của rất nhiều gia đình Việt, nhu cầu vẫn cao dù ở thời điểm nửa thế kỷ trước hay của hiện tại. Nhưng lối sống hiện đã đổi thay, những người con của thế hệ sau này đã có phần hờ hững với xóm nghề vài đời gắn bó.

Bà Hồng chia sẻ về điều làm bản thân tiếc nuối: "Lớp trẻ giờ người ta đi làm, không chịu học gói, người lớn tuổi thì lần lần người ta mất hay là người ta gói không nổi, thành ra nghề này lâu ngày cũng sẽ ít lại. Giải tỏa người đi một ngã hết, nghề này chắc không còn quá".

Ảnh: Báo Lao động

Ảnh: Báo Lao động

Hành trình ngược xuôi của cái nghề cái nghiệp là điều khó tránh khỏi, dẫu biết lòng người vẫn còn đau đáu về quá khứ dần xa. Nhưng với những lão niên nơi xóm cũ, nơi quy tụ những người con gốc Sài Gòn, chỉ cần còn cơ hội để gắn bó, đều sẽ không dễ dàng bỏ qua.

Bà Bông chia sẻ giọng chắc nịch: "Thấy người ta làm mình không làm buồn, mà gần tới là nôn nao. Cực thì cực nhưng mà làm thì vui. Mai mốt giải tỏa đi hết, đâu còn ai đâu mà làm. Một hai nhà còn chưa bị giải tỏa thì mình lại mình gói, mình lên làm mấy ngày rồi mình về, quen rồi không làm thì cũng buồn".

Trong giọng nói, ánh mắt của bà con xóm hẻm Phạm Thế Hiển, chúng tôi cảm nhận được cái tình dành cho nghiệp gói bánh ú lá tre. Xóm nghề hơn nửa thế kỷ từ khởi đầu đến thịnh rồi dần suy, trong hành trình đẹp đẽ đó, có thể khẳng định nơi đây đã rất thành công trong việc định hình mình trong vô vàn điều đáng để kể của Sài Gòn – TPHCM.

Ngày đầu tháng Năm âm lịch, thời điểm người ta nghĩ về những được mất của nửa năm trôi qua, có con xóm rộn rã tiếng cười, đẫm vị mặn của mồ hôi giữa Sài Gòn nóng rát, chung lòng góp nên mùa Tết Đoan Ngọ. Hy vọng hình ảnh bình dị này, theo một cách nào đó, sẽ vẫn mãi được lưu giữ giữa nhịp sống tất bật của phố thị trăm năm.  

SỐNG Ở SÀI GÒN: Thủy đài Sài Gòn: Chứng nhân trăm tuổi giữa cơn lốc đô thị hóa

Giữa những tòa nhà cao chọc trời, những công trình hiện đại, ở một vài tuyến đường, góc phố Sài Gòn vẫn thấp thoáng bóng dáng của những công trình hình nấm cũ kỹ. Đó là các thủy đài –“tháp nước” từng giữ là “trái tim” của hệ thống cấp nước đầu tiên ở Sài Gòn.

Ngày nay, các công trình đã ngừng hoạt động, một vài công trình xuống cấp… lặng lẽ đứng giữa lòng Sài Gòn - TP.HCM như “chứng nhân” lịch sử. Và cũng từ đây, một câu hỏi được đặt ra: Nên giữ lại hay phá dỡ những công trình đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình?

Thủy đài –“tháp nước” từng giữ là “trái tim” của hệ thống cấp nước đầu tiên ở Sài Gòn.

Thủy đài –“tháp nước” từng giữ là “trái tim” của hệ thống cấp nước đầu tiên ở Sài Gòn.

Sài Gòn – TPHCM hiện có 7 thủy đài (tháp nước) hình nấm khổng lồ được xây dựng trước năm 1975, nằm rải rác trên đường Nguyễn Thái Sơn, đường Hồ Văn Huê, góc Hoàng Diệu – Nguyễn Tất Thành… Theo tư liệu của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn và lời kể của các nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử, thủy đài đầu tiên ở Sài Gòn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gắn liền với quá trình hình thành hệ thống cấp nước đô thị.

Thuở sơ khai, vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn chưa có nhà máy nước, chủ yếu dùng nguồn nước mưa, nước giếng. Do đó, người Pháp cho xây dựng những thủy đài (tháp nước) nhằm dự trữ nước, phục vụ cho nhu cầu nước sinh hoạt ngày càng tăng của thành phố.

Thời kỳ thủy đài, mùa mưa nước từ các giếng cạn sẽ chảy về giếng trung tâm, mùa khô phải dùng máy để bơm. Từ giếng trung tâm, nước được xử lý, khử trùng rồi bơm lên bể chứa của Thủy đài phân phối đến người dân qua hệ thống ống dẫn. Cứ như thế, dòng nước mát lành từ những tháp nước cao cao ấy từng len lỏi vào từng con hẻm, từng khu phố, nuôi dưỡng nhịp sống của bao thế hệ cư dân Sài Thành. Theo dòng thời gian, cùng với sự phát triển của hệ thống cấp nước hiện đại, thủy đài ngưng hoạt động.

Tồn tại giữa lòng đô thị hiện đại, thủy đài cổ như “chứng nhân” cho quá trình hình thành hệ thống cấp nước hiện đại, đánh dấu bước chuyển mình sang đô thị công nghiệp của Sài Gòn. Mặc dù, không còn thực hiện chức năng cấp nước như trước, nhưng các thủy đài vẫn hiện diện như một phần ký ức, lưu giữ bản sắc đô thị qua nhiều thế hệ. Song, ngày nay, trước tốc độ đô thị hóa – hiện đại hóa nhanh chóng, sổ phận các thủy đài cổ đứng trước hai ngã rẽ: bảo tồn hay phá dỡ?

Song o Sai Gon_hinh 2 lớn

Ở góc độ quy hoạch đô thị, không ít người cho rằng, nhiều công trình thủy đài đã cũ kỹ, xuống cấp, không còn giá trị sử dụng, cần tháo dỡ để nhường chỗ cho các dự án mới nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất công. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, Sài Gòn “đất chậc người đông”, “tấc đất tấc vàng”, việc dành diện tích cho những công trình không có công năng là một sự lãng phí.

Song, ở hướng ngược lại, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu chỉ nhìn thủy đài dưới góc độ kinh tế, tháo dở toàn bộ thủy đài, rất có thể thành phố sẽ đánh mất bản sắc của chính mình. Bởi di sản không chỉ là đình, chùa hay những công trình kiến trúc cổ kính, mà nó còn là các công trình công nghiệp – nơi ghi dấu quá trình hình thành và phát triển của đô thị.

Vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn giữ hay bỏ một công trình đã cũ, mà là cách thành phố gìn giữ di sản, ứng xử với quá khứ với lịch sử của chính mình? Thiết nghĩ, thành phố cần có những khảo sát, đánh giá đúng thực trạng của những thủy đài để có những hướng khai thác phù hợp, dung hòa giữa bảo tồn di sản và nhu cầu phát triển đô thị.

Thay vì chỉ lựa chọn giữa giữ nguyên hiện trạng hoặc phá bỏ hoàn toàn, chúng ta có thể giữ lại các công trình công nghiệp cũ bằng việc trao cho chúng một “đời sống mới”. Chúng ta có thể nghiên cứu cải tạo các thủy đài thành những không gian công cộng, địa điểm sinh hoạt văn hóa dành cho cộng đồng. Đó có thể là một điểm tham quan, khu triển lãm, bảo tàng trưng bày tư liệu về lịch sử ngành cấp nước thành phố.

Hay chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Anh, Hà Lan…"hồi sinh" tháp nước cũ với một chức năng mới, chuyển đổi thành quán cà phê, thư viện, phòng trưng bày nghệ thuật hoặc đài quan sát, vừa bảo tồn được giá trị lịch sử, vừa tạo ra giá trị kinh tế và văn hóa mới.

Trong dòng chảy phát triển của một đô thị hiện đại, không nhất thiết phải xóa đi tất cả những dấu vết của quá khứ. Bởi chính sự đan xen giữa cũ và mới, giữa cái cổ kính và hiện đại mới tạo nên chiều sâu và bản sắc riêng cho Sài Gòn - TPHCM. Quan trọng hơn, việc bảo tồn các thủy đài trăm tuổi không chỉ là giữ lại một công trình kỹ thuật mà còn là cách thành phố thể hiện thái độ trân trọng đối với quá khứ, với những lớp ký ức đã góp phần tạo nên diện mạo của Sài Gòn – TP.HCM hôm nay.   

Ngọc Yến - Diễm Thuý/vovgiaothong.vn
Ý kiến của bạn
Công viên sinh thái Vĩnh Hưng (Hà Nội): Bao giờ thoát cảnh dự án “treo'?

Công viên sinh thái Vĩnh Hưng (Hà Nội): Bao giờ thoát cảnh dự án “treo"?

Từng được kỳ vọng trở thành lá phổi xanh của khu vực phía Nam Thủ đô, nhưng đến nay dự án Công viên sinh thái Vĩnh Hưng, thành phố Hà Nội vẫn chỉ là một khu đất hoang hóa với cỏ dại, rác thải và hồ nước ô nhiễm cùng với những khu vực sử dụng sai mục đích, thiếu sự quản lý.

Số hóa bãi đỗ xe: Thuận tiện đã thấy, vướng mắc vẫn còn

Số hóa bãi đỗ xe: Thuận tiện đã thấy, vướng mắc vẫn còn

Một năm trước, Hà Nội bắt đầu triển khai thu phí trông giữ xe ô tô không dùng tiền mặt tại nhiều tuyến phố và điểm đỗ trên địa bàn thành phố.

Hà Nội siết hoạt động vận tải vật liệu và phế thải xây dựng

Hà Nội siết hoạt động vận tải vật liệu và phế thải xây dựng

Hà Nội đang triển khai đồng loạt nhiều dự án hạ tầng giao thông và đô thị trọng điểm, hoạt động vận tải vật liệu, phế thải xây dựng trở nên vô cùng sôi động. Tuy nhiên, đi cùng là những nỗi lo về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và sự xuống cấp của kết cấu hạ tầng đường bộ.

Báo chí phải góp phần củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Báo chí phải góp phần củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Kỉ niệm 101 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925- 21/06/2026, chiều nay (16/06) tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có buổi gặp mặt thân mật 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải Báo chí Quốc gia qua các năm cùng một số nhà báo lão thành.

Việt Nam sẽ làm gì khi đường sắt tốc độ cao lăn bánh mà không có kỹ sư làm chủ?

Việt Nam sẽ làm gì khi đường sắt tốc độ cao lăn bánh mà không có kỹ sư làm chủ?

Quốc hội khóa XV đã thông qua chủ trương đầu tư dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam với tổng vốn hơn 67 tỷ USD – quy mô lớn nhất trong lịch sử đầu tư công của nước nhà.

Đổi mới tư duy, làm chủ không gian số: Sứ mệnh mới của báo chí cách mạng Việt Nam

Đổi mới tư duy, làm chủ không gian số: Sứ mệnh mới của báo chí cách mạng Việt Nam

Sáng nay (16/6), tại Trung tâm Phát thanh Quốc gia 58 Quán Sứ, Hà Nội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Nhà báo Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức Hội nghị giao ban báo chí Nhân kỷ niệm 101 năm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 -21/6/2026).

Vị ngọt thời ấu thơ

Vị ngọt thời ấu thơ

Có những món ăn chẳng cần biển hiệu cầu kỳ, cũng chẳng cần quảng cáo rộn ràng, vậy mà chỉ cần nhìn thấy thôi, người ta đã bất giác mỉm cười vì nhớ.