Hà Nội - 02437919191    TP. Hồ Chí Minh - 02839919191    MekongFM - 02838309090
  • Hà Nội - 02437919191   
  • TP. Hồ Chí Minh - 02839919191   
  • MekongFM - 02838309090   
Dự thảo trên tay

Gắn mã định danh cho tài sản trí tuệ về văn hóa

Quách Đồng: Thứ hai 24/08/2026, 15:30 (GMT+7)

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa. Cơ quan soạn thảo đã đề xuất các chính sách nhằm bảo vệ tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số, cũng như công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản văn hóa trên môi trường số...

KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA XÃ HỘI 

Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch soạn thảo, có 9 chương, 60 Điều, gồm: Những quy định chung; Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực trong ngành văn hóa…

Cụ thể, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa hướng tới xác định địa vị pháp lý chính thức của lĩnh vực này trong cơ cấu ngành kinh tế, kết nối chuỗi giá trị nhằm tạo đột phá về giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; đồng thời lan tỏa bản sắc, thương hiệu và “sức mạnh mềm” Việt Nam trên trường quốc tế. 

Về nguyên tắc phát triển công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất quy định kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hoá xã hội; giá trị kinh tế và giá trị văn hoá xã hội; bảo vệ và phát huy di sản văn hoá, bản sắc văn hoá Việt Nam.

Một trong những điểm mới của dự thảo Luật là tiếp cận hệ sinh thái công nghiệp văn hóa như một chỉnh thể, lấy con người, chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ làm trung tâm. Trong đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát được áp dụng đối với hoạt động công nghiệp văn hoá hoặc mô hình kinh doanh mới trong các ngành công nghiệp văn hóa nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển thị trường và hoàn thiện chính sách, pháp luật

Đặc biệt, tại dự thảo Luật này, Ban soạn thảo cũng đề xuất xây dựng Mã định danh tài sản trí tuệ để nhận diện, quản lý, truy xuất, kết nối dữ liệu và theo dõi toàn bộ vòng đời của tài sản. Hồ sơ tài sản trí tuệ được lập, quản lý dưới dạng số; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và phù hợp, tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế; bảo đảm khả năng định danh, truy xuất, liên thông và trao đổi dữ liệu theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử và chuyển đổi số.

Đôpí với tài sản trí tuệ, Ban soạn thảo cũng đề xuất quy định tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hoá được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong các quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đã được Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, lấy ý kiến rộng rãi nhân dân. Hiện, dự luật đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉnh lý, hoàn thiện để gửi Bộ Tư pháp thẩm định. Dự kiến, Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa sẽ được trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp vào tháng 10 năm nay.

Dự thảo Luật hướng tới mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP trong thời gian sớm nhất (nguồn VGP)

Dự thảo Luật hướng tới mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP trong thời gian sớm nhất (nguồn VGP)

BẢO VỆ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRÊN MÔI TRƯỜNG SỐ 

Vì sao cần thiết lập công cụ quản lý tài sản văn hóa trên môi trường số?

Phóng viên Ban VOVGTQG đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long, Phó chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam về nội dung này:

PV: Thưa ông, vì sao việc thiết lập công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số lại trở thành yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay?

PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long: Tính cấp thiết của công cụ này bắt nguồn từ một nghịch lý đang tồn tại suốt nhiều năm qua. Một bài hát, một hình tượng nhân vật có thể được sao chép, cắt ghép và phát tán qua hàng chục nền tảng chỉ trong vài giờ, trong khi hệ thống đăng ký và chứng minh quyền sở hữu trí tuệ hiện hành vẫn vận hành theo tư duy hồ sơ giấy tờ, khiến tốc độ xử lý vi phạm hay đăng ký bản quyền không theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ.

Thứ hai, khi tài sản trí tuệ tồn tại dưới dạng phi chính thức, không có mã định danh, không có hồ sơ số hóa để truy xuất nguồn gốc và lịch sử khai thác, thì bản thân tác giả cũng khó chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp mỗi khi tranh chấp xảy ra.

Thứ ba, nếu tài sản trí tuệ văn hóa của Việt Nam không được định danh theo chuẩn tương thích quốc tế, sản phẩm văn hóa trong nước không thể tham gia đầy đủ vào các chuỗi giá trị, chuỗi phân phối, cấp phép và hợp tác toàn cầu.

PV: Nếu thiếu một công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số, những rủi ro nào có thể xảy ra đối với tác giả, doanh nghiệp sáng tạo và sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam?

PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long: Đối với tác giả, rủi ro lớn nhất đối là có thể mất quyền kiểm soát đối với những đứa con tinh thần mà họ tạo ra, bởi vì dễ bị sử dụng trái phép, bị cắt ghép, trong khi việc chứng minh quyền sở hữu và theo đuổi khiếu nại tốn kém thời gian và chi phí.

Thứ hai, đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị vừa và nhỏ, việc thiếu hồ sơ tài sản trí tuệ chuẩn hóa, đồng nghĩa với việc họ gần như không thể dùng chính sản phẩm sáng tạo của mình để tiếp cận tín dụng, hay kêu gọi đầu tư thêm, bởi ngân hàng và quỹ đầu tư không có căn cứ đáng tin cậy để định giá một tài sản vô hình.

Thứ ba, ở tầm vĩ mô hơn, khi các sản phẩm văn hóa Việt Nam liên tục bị sao chép hoặc khai thác trái phép mà không có cơ chế truy vết hiệu quả, thị trường dần hình thành một tâm lý phòng thủ, doanh nghiệp ngần ngại đưa sản phẩm mới ra môi trường số, vì lo ngại bị đánh cắp. Với những người sáng tạo không nhận được thù lao xứng đáng từ sản phẩm của mình, họ sẽ ít có khả năng tái đầu tư cho các dự án mới. Khi đó, công nghiệp văn hóa khó hình thành được một chuỗi giá trị bền vững.

PV: Theo ông, công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số cần được thiết kế theo những nguyên tắc nào để vừa bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, thương mại hóa các sản phẩm văn hóa?

PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long: Theo tôi, để công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số vừa bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ, vừa tạo thuận lợi cho khai thác thương mại, việc thiết kế cần dựa trên ba nguyên tắc cân bằng.

Thứ nhất là nguyên tắc định danh, bao gồm thông tin về chủ thể sáng tạo, chủ thể nắm quyền, phạm vi quyền, lịch sử chuyển nhượng hoặc cấp phép.

Thứ hai là nguyên tắc minh bạch có kiểm soát, nghĩa là dữ liệu về quyền sở hữu và lịch sử giao dịch cần độ mở rõ ràng để đối tác thương mại, tổ chức tín dụng hay nhà đầu tư, để họ có thể tra cứu và xác minh nhanh chóng, nhưng đồng thời phải có cơ chế phân quyền truy cập rõ ràng để tránh lộ thông tin nhạy cảm về chiến lược kinh doanh, hoặc giá trị định giá của từng chủ thể.

Thứ ba là nguyên tắc liên thông và tương thích quốc tế nên được thiết kế từ đầu, bởi một hệ thống định danh chỉ vận hành tốt trong nước thôi, thì sau này dễ gặp rất nhiều khó khăn khi kết nối với hệ thống hoặc tiêu chuẩn quốc tế.

PV: Xin cảm ơn ông!

PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long

PGS.TS Nguyễn Văn Thăng Long

 TỪ "BẢO VỆ BẢN QUYỀN" ĐẾN "HỘ CHIẾU SỐ" CHO TÀI SẢN VĂN HÓA

Việc thiết lập công cụ quản lý tài sản văn hóa trên môi trường số, nếu được ban hành sẽ có những tác động xã hội như thế nào?

Phóng viên Ban VOVGTQG đã có cuộc trao đổi với đại biểu Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa- Xã hội của Quốc hội về nội dung này:

PV: Thưa ông, trong bối cảnh các sản phẩm văn hóa số ngày càng dễ bị sao chép, phát tán trái phép, theo ông, việc thiết lập công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số cần được luật hóa theo những nguyên tắc nào?

Ông Bùi Hoài Sơn: Trước hết, chúng ta phải thay đổi cách nhìn. Sở hữu trí tuệ không chỉ là câu chuyện bảo vệ quyền sau khi tác phẩm đã ra đời, mà phải trở thành một bộ phận của hạ tầng phát triển công nghiệp văn hóa. Đây cũng chính là điểm rất đáng chú ý trong dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, khi đặt tài sản trí tuệ vào vị trí trung tâm của chuỗi giá trị, hướng đến việc nhận diện, quản lý, định giá, bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ, chứ không chỉ dừng lại ở bảo vệ quyền.

Vì vậy, công cụ quản lý tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số cần được thiết kế ít nhất ở bốn nguyên tắc. Thứ nhất là bảo vệ quyền, nhưng không tạo thêm giấy phép con cho sáng tạo. Thứ hai là phải cân bằng giữa bảo vệ và tiếp cận. Thứ ba là phải xem quản lý đi cùng với khả năng liên thông và truy xuất. Nguyên tắc thứ tư rất quan trọng là Nhà nước kiến tạo công cụ nhưng thị trường phải được tạo điều kiện vận hành.

PV: Theo ông, hệ thống pháp luật hiện hành còn những khoảng trống gì trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ văn hóa trên môi trường số? Cần bổ sung những gì để nâng cao hiệu quả thực thi?

Ông Bùi Hoài Sơn: Khoảng trống lớn nhất nằm ở chỗ các mảnh ghép đã có, nhưng chưa hình thành đầy đủ một hệ sinh thái quản trị tài sản trí tuệ văn hóa. Pháp luật truyền thống chủ yếu trả lời câu hỏi ai có quyền và quyền bị xâm phạm thì xử lý thế nào? Trong khi công nghiệp văn hóa đặt thêm hàng loạt câu hỏi là tài sản đó được nhận diện ra sao? để lịch sử sáng tạo thế nào? Đang được ai khai thác, giá trị bao nhiêu?... Vì vậy tôi kỳ vọng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ tạo ra một cái hộ chiếu số cho tài sản trí tuệ văn hóa. Một tác phẩm từ khi hình thành ý tưởng thì có thể được lưu vào nhật ký sáng tạo, xác thực chủ thể, gắn mã định danh, hình thành hồ sơ số. Khi được cấp phép chuyển nhượng, định giá hay dùng làm tài sản bảo đảm ấy thì thông tin cần thiết tiếp tục được cập nhật.

PV: Nếu các quy định này trở thành hiện thực, theo ông sẽ có những tác động xã hội như thế nào?

Ông Bùi Hoài Sơn: Tác động lớn nhất không chỉ nằm ở việc giảm bao nhiêu vụ vi phạm bản quyền, mà sâu xa hơn là tạo dựng một văn hóa tôn trọng sáng tạo và tạo niềm tin cho người sáng tạo.

Tác động thứ hai là làm lành mạnh thị trường văn hóa số. Khi nội dung hợp pháp được bảo vệ tốt hơn, thì vi phạm sẽ trở nên đắt giá hơn và cấp phép trở nên thuận tiện hơn, người dân sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với sản phẩm có chất lượng, với chi phí hợp lý.

Đối với môi trường sáng tạo, đầu tư và phát triển bền vững của công nghiệp văn hóa, tôi còn nhìn thấy một tác động xa hơn, đó là bảo vệ tài sản trí tuệ văn hóa chính là một phương thức bảo vệ chủ quyền và gia tăng sức mạnh mềm văn hóa trên không gian số. Nếu Luật Phát triển công nghiệp văn hóa giải quyết được bài toán đó thì tài sản trí tuệ sẽ thực sự trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng của nền kinh tế sáng tạo của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

PV: Xin cảm ơn ông.

***

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sau 12 năm nỗ lực triển khai Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, tỷ trọng công nghiệp văn hoá trong GDP Việt Nam cả giai đoạn 2018 - 2025 ước đạt 4-5%, cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 đạt tối thiểu 7%, khó đạt được nếu không có một “cú huých” về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước.

Bởi vậy, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đề xuất nhiều chính sách nhằm phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có việc bảo vệ tài sản văn hóa trên môi trường số nhằm hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị.

Bạn kỳ vọng gì vào những đề xuất này? Nếu được ban hành, các quy định mới của dự luật sẽ có những tác động xã hội như thế nào?

----

Mời các bạn cùng chia sẻ ý kiến, đóng góp cho Dự thảo qua hotline 02437.91.91.91, qua fanpage của Ban VOVGTQG, hoặc có thể góp ý trực tiếp trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

 

Quách Đồng/vovgiaothong.vn
Ý kiến của bạn
Hiệu quả ban đầu của chống ngập bằng bể chứa ngầm

Hiệu quả ban đầu của chống ngập bằng bể chứa ngầm

Mỗi khi mưa lớn trút xuống, nhiều tuyến đường đô thị nhanh chóng biến thành sông, giao thông đình trệ, nước tràn vào nhà dân. Từ Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng đến Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, mỗi nơi có một nguyên nhân ngập khác nhau.

Xe buýt TP.HCM 'thay da đổi thịt' nhờ cú hích chuyển đổi số

Xe buýt TP.HCM "thay da đổi thịt" nhờ cú hích chuyển đổi số

Không còn cảnh chật vật tìm tiền lẻ, xé vé giấy hay đứng chờ khá lâu tại trạm dừng, hành khách đi xe buýt tại TP.HCM giờ đây chỉ cần "một cú chạm" trên điện thoại hoặc Căn cước công dân.

Lạng Sơn thiệt hại nặng do bão số 4, Bắc Ninh và Quảng Ninh chủ động phòng ngừa

Lạng Sơn thiệt hại nặng do bão số 4, Bắc Ninh và Quảng Ninh chủ động phòng ngừa

Mưa lớn do ảnh hưởng bão số 4 đã gây thiệt hại và đe dọa ngập lụt tại Lạng Sơn, Bắc Ninh và Quảng Ninh.

Về Kim Lan khám phá làng gốm cổ ven sông Hồng

Về Kim Lan khám phá làng gốm cổ ven sông Hồng

Có những câu chuyện của Hà Nội không nằm trong những con phố đông đúc, mà ẩn mình dưới lớp phù sa sông Hồng. Ở Kim Lan, mỗi mảnh gốm được tìm thấy dưới lòng đất dường như đang hé lộ một phần ký ức đã hơn nghìn năm tuổi.

Không nhường đường xe ưu tiên, có thể bị phạt đến 16 triệu đồng

Không nhường đường xe ưu tiên, có thể bị phạt đến 16 triệu đồng

Theo Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người và phương tiện không nhường đường hoặc gây cản trở xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ có thể bị xử phạt từ 150.000 đồng đến 16 triệu đồng, tùy loại phương tiện; một số trường hợp còn bị trừ 4 điểm giấy phép lái xe.

Chuyện đường dẫn từ ga đến cầu Long Biên

Chuyện đường dẫn từ ga đến cầu Long Biên

Vì sao suốt hơn một thế kỷ qua, con phố Phùng Hưng của Hà Nội chỉ toàn số nhà chẵn mà tuyệt nhiên không hề có một số lẻ?

Nộp phạt nguội hoàn toàn qua mạng, cần nhất tính minh bạch

Nộp phạt nguội hoàn toàn qua mạng, cần nhất tính minh bạch

Như VOV Giao thông Quốc gia đã thông tin, Cục Cảnh sát giao thông đang đề xuất sửa một số quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, nhằm đưa toàn bộ quy trình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông lên môi trường điện tử.