Từng một thời, nghề đi biển được xem là công việc “hốt bạc”. Nhiều người ra khơi mưu sinh, làm giàu từ biển và rồi xem biển như ngôi nhà của mình, để nghề ấy cứ thế trở thành nghiệp cha truyền con nối. Ấy vậy mà, những năm gần đây, nghề biển đang dần thất thế.
Một trong những nguyên nhân khiến ngư dân ngày càng xa biển là tình trạng hàng loạt cửa biển bị bồi lắng nghiêm trọng, khiến nhiều tàu thuyền lớn phải neo đậu, treo lưới. Đây cũng là thực tế mà nhóm phóng viên Ban VOV Giao thông Quốc gia ghi nhận tại vùng biển Cà Mau –một trong bốn ngư trường trọng điểm lớn nhất cả nước.
KHI CỬA BIỂN KHÔNG CÒN LÀ CỬA NGÕ
Những ngày giữa tháng 5, cái nắng ền biển vẫn còn hầm hập dù vài cơn mưa đầu mùa đã kịp ghé qua. Đối với ngư dân vùng biển, đây là thời điểm “vàng” cho những chuyến biển đầy ấp cá, tôm.
Ấy vậy mà, dọc theo những cửa biển lớn nhỏ tại Cà Mau, không khí ra khơi đìu hiu đến lạ.
Có gần 30 năm gắn bó với biển, ông Nguyễn Văn Hiền, ngụ tại khóm Nhà Mát, phường Hiệp Thành cho biết, dù đã từng đối mặt với không ít trận cuồng phong hay những cơn sóng dữ, chiếc thuyền của ông và nhiều ngư dân khác vẫn căng buồm, vững lái. Thế nhưng, nhiều năm trở lại đây, hàng loạt ngư dân giỏi nghề cũng đành bất lực, buộc phải treo lưới, neo thuyền bởi tình trạng bồi lắng cửa biển, khiến tàu thuyền lớn không thể vươn khơi.
“Tàu thuyền bây giờ khó vô ra lắm, bị bồi lấp cũng khoảng 2 năm nay rồi, chắc bị bồi hơn nửa thước. Bây giờ làm nghề biển khó khăn đủ đường, nhiều lúc cũng muốn bỏ nghề này cho rồi, khổ cực lắm.”
Theo UBND phường Hiệp Thành, cửa kênh 30/4, hay còn gọi là cửa biển Nhà Mát, hiện đang bị bồi lắng nghiêm trọng. Không ít tàu thuyền khi ra vào cửa biển đã bị mắc cạn, thậm chí xảy ra tai nạn giao thông đường thủy, gây thiệt hại về tài sản và đe dọa an toàn tính mạng người dân.
Theo kết quả đo đạc, vào thời điểm triều cường, nơi sâu nhất tại khu vực cửa biển hiện chỉ khoảng 1,5m. Độ sâu này khiến nhiều tàu cá có tải trọng lớn gần như không thể lưu thông. Khảo sát thực tế cho thấy, hơn 200 tàu cá trên địa bàn đang gặp khó khăn trong hoạt động khai thác; khoảng 100 tàu công suất lớn phải nằm bờ vì không thể ra khơi. Nhiều chủ tàu buộc phải đưa phương tiện sang địa phương khác neo đậu để thuận tiện hơn cho việc vươn khơi, kéo theo sản lượng thu mua hải sản tại địa phương giảm hơn 40%.
Không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế ngư dân, đây còn là tuyến cửa biển phục vụ hoạt động của lực lượng biên phòng, kiểm ngư và các hải đội tuần tra trên biển. Hiện nay, nhiều tàu lớn của lực lượng chức năng cũng gặp khó khăn khi ra vào cửa biển, ảnh hưởng đến công tác tuần tra, kiểm soát an ninh vùng biển cũng như nhiệm vụ chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Ông Lê Tiến Dũng – Quyền Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng phường Hiệp Thành cho biết, tình trạng bồi lắng tại cửa biển Nhà Mát đã kéo dài nhiều năm nay và trở thành nỗi trăn trở của địa phương cũng như ngư dân. Năm 2022, khu vực này từng được nạo vét để khơi thông luồng lạch, tuy nhiên chỉ sau một thời gian, bùn cát lại tiếp tục bồi tụ nghiêm trọng.
Theo ông Dũng, nguyên nhân là do khu vực này vốn là bãi bồi tự nhiên nên tốc độ bồi lắng diễn ra rất nhanh. Bên cạnh đó, thời gian qua, nhiều dự án điện gió được triển khai ngoài biển; quá trình vận chuyển vật liệu và thi công cũng phần nào làm thay đổi dòng chảy, khiến cát bùn tiếp tục dịch chuyển và tích tụ tại cửa biển.
“Đội tàu của phường Hiệp Thành là đội tàu lớn nhất khu vực tỉnh Bạc Liêu cũ, nhưng bây giờ lại chẳng ra vào được, không sản xuất được. Ngoài ra còn các dịch vụ hậu cần nghề cá bao gồm: nước đá, xăng dầu, nhân công bốc vác, vựa thu mua…tất cả đều bị ảnh hưởng và phải hoạt động cầm chừng. Vì hiện sản phẩm đánh bắt rất ít, bởi tàu không ra khơi được. Hiện nay địa phương đang rất khó khăn và đau lòng, địa phương cũng rất quyết liệt kiến nghị đối với vấn đề này.”
5 giờ, trời vừa hửng sáng cũng là lúc con nước bắt đầu ròng xuống. Ở cửa biển Khánh Hội, xã Khánh Lâm, không khí ảm đạm, heo hút bao trùm khắp khu vực cửa biển. Hàng trăm chiếc tàu cá nằm im lìm nối đuôi nhau bên bến, vì tất cả cùng chung số phận không thể ra khơi… Có chiếc phủ bạt kín mít, có chiếc chao nghiêng theo lớp bùn non dần lộ ra dưới bụng tàu. Xa xa, một người đàn ông ngồi tựa lưng vào mạn tàu, ánh mắt lặng lẽ hướng ra biển.
Ông không nhìn sóng, mà dõi theo con nước… bởi giờ đây, muốn ra khơi, chiếc tàu phải chờ và nhờ con nước lớn.
Người đàn ông ấy là Nguyễn Văn Nha, người đã có hơn 35 năm xem biển là nhà. Hơn nửa đời người gắn bó với biển cũng là từng ấy năm ông trải qua đủ vui buồn của nghề đi biển. Ông kể, nghề biển có lúc huy hoàng, đầy ắp tôm cá; cũng có lúc ảm đạm như những con sóng thất thường ngoài khơi, khi hiền hòa, lúc dữ dội.
Cuộc sống của gia đình ông Nha từng ổn định, khấm khá hơn cũng nhờ biển cả. Thế nhưng giờ đây, cái nghề từng nuôi sống bao thế hệ ngư dân đang dần “chết mòn”. Còn ông và nhiều người bám biển khác thì rơi vào cảnh bất lực… buông không đành mà níu lấy cũng đầy nhọc nhằn, gian nan:
“Ngày đó nghề biển dễ sống, còn bây giờ sao khó khăn quá. Lúc thì biển bồi lắng không thể ra vào, lúc thì xăng dầu biến động…làm không được gì. Mỗi chuyến ra khơi là lỗ tiền, riết không dám ra nữa. Cũng đành chấp nhận thôi, giờ neo thuyền lên bờ tìm việc, ai kêu gì thì làm cái đó sống qua ngày chứ biết phải làm sao bây giờ.”
Ông Trần Công Mười – Phó Chủ tịch UBND xã Khánh Lâm cho biết, cửa biển Khánh Hội là một trong những cửa biển lớn của Cà Mau, với hơn 700 tàu cá thường xuyên ra vào, sản lượng khai thác trung bình khoảng 21.000 tấn hải sản mỗi năm. Đây cũng là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển của địa phương.
Tuy nhiên, những năm gần đây, tình trạng bồi lắng ngày càng nghiêm trọng khiến luồng lạch dần cạn, tàu thuyền ra vào gặp nhiều khó khăn, kéo theo sinh kế ngư dân và kinh tế địa phương cũng ngày một “lao dốc”. Trong quãng thời gian này, chỉ còn biết chờ đợi, đồng thời tiếp tục kiến nghị các cấp có thẩm quyền sớm có giải pháp khắc phục tình trạng bồi lắng, khơi thông luồng lạch để ổn định hoạt động khai thác thủy sản cho ngư dân:
“Trước tình hình này UBND xã đã chỉ đạo thường xuyên, cùng với tuyên truyền đối với chủ tàu, thuyền trưởng ra khơi đúng luồng, đảm bảo an toàn. Ngoài ra địa phương cũng thường xuyên thăm hỏi, động viên ngư dân vượt qua khó khăn để duy trì ra khơi, bám biển trong thời gian tiếp theo.”
Cửa biển bị “khóa” nhiều ngư dân rơi vào hoàn cảnh “đứng ngồi không yên”. Trên những boong tàu cũ bạc màu nắng gió, những ngư dân lam lũ chỉ biết hát cho vơi nỗi lòng, rồi lặng lẽ canh con nước từng chút một với hy vọng được ra khơi.
Ông Lê Thanh Hồng, ngụ ấp Kênh Hòn Bắc, xã Đá Bạc, người đã có hơn 40 năm lênh đênh trên biển cho biết, cuộc sống của ngư dân hiện nay vô cùng khó khăn vì tàu thuyền thường xuyên mắc cạn, không thể vươn khơi như trước. Vì yêu biển, nhiều người vẫn cố gắng “gồng gánh” để bám trụ với nghề. Thế nhưng, đó chủ yếu là những hộ còn đủ điều kiện kinh tế, còn với những ngư dân lam lũ, chuyện rời biển trong đau xót dường như là điều khó tránh khỏi.
“Thuyền khi vào đến cửa ngõ thì bị mắc cạn, có trường hợp bị mắc cạn rồi sóng đánh gây thiệt hại, có trường hợp nguy hiểm sóng đánh khiếm đắm thuyền. Người dân rất mong muốn các cấp lãnh đạo quan tâm, phân bổ nguồn ngân sách nhằm nạo vét thì người dân rất mừng và biết ơn.”
Chiều xuống bên cửa biển Đá Bạc, nhóm ngư dân đàn hát với nhau cũng dần rời đi, chỉ còn vài người vẫn nặng lòng với biển nán lại bên những con tàu nằm neo bến. Họ ngồi lặng bên mạn thuyền, chờ con nước đủ lớn để có thể dong tàu ra khơi. Xa ngoài kia, biển vẫn xanh ngắt dưới ánh chiều muộn, nhưng giữa biển và những con tàu lúc này dường như đang tồn tại một khoảng cách rất gần… mà cũng rất xa.
Bao đời nay, ngư dân ền biển Tây Nam Bộ vốn quen đối mặt với sóng to gió lớn. Họ không sợ biển động, cũng chẳng ngại những chuyến hải trình dài ngày ngoài khơi xa. Điều khiến họ bất lực nhất lúc này… lại chính là chuyện mắc cạn ngay trước cửa biển quê mình. Và phía sau những con tàu nằm im lìm ấy, là một câu hỏi lớn vẫn chưa có lời giải: Vì sao những cửa biển, nơi được xem là “cửa ngõ” sống còn của nghề cá lại đang dần bị “khóa” lại?
SINH KẾ MẮC CẠN, NGƯ DÂN LÊN BỜ
Tình trạng bồi lắng kéo dài suốt nhiều năm qua tại các cửa biển lớn nhỏ ở Cà Mau đã khiến nhiều ngư dân cùng những con tàu từng quen sóng gió phải nằm bờ, rồi lặng lẽ xa biển. Có người vẫn còn nặng lòng với nghề, chẳng nỡ buông tay. Cũng có người buộc phải chấp nhận rời biển, tìm công việc khác để gồng gánh kinh tế gia đình.
Rồi cứ thế, những xóm chài từng nhộn nhịp thuyền ghe, rộn vang tiếng máy trở nên im lìm.
Những ngày này, cửa biển Khánh Hội, xã Khánh Lâm, tỉnh Cà Mau trở nên đìu hiu đến lạ. Chợ hải sản vốn nhộn nhịp nay cũng thưa vắng người mua bán, bởi hàng loạt tàu cá phải nằm bờ.
Ngồi bên bến tàu thuyền neo đậu, chị Lâm Thị Giàu – một ngư dân sống tại đây đang thoăn thoắt vá những mẻ lưới cuối cùng để kịp giao cho khách trong buổi chiều. Hỏi chuyện mới biết, chị không chỉ là ngư dân mà còn là chủ ghe, là đời thứ ba tiếp nối nghề biển của ông nội và cha mình. Thế nhưng, cũng vì tình trạng bồi lắng kéo dài, cặp tàu lớn của gia đình chị đã phải nằm bờ suốt hơn một năm nay chẳng thể ra khơi.
“Biển bây giờ không giống như ngày xưa. Bây giờ ra làm thì hải sản cũng không còn nhiều, rồi giá cả cũng bấp bênh, bạn thuyền khó khăn, nợ nần nhiều…nói chung là rất nhiều vấn đề khiến người làm nghề biển nản lòng. Nhiều người xoay sở không được nên bỏ nghề nhiều lắm. Tôi cũng muốn bỏ nghề rồi, nhưng vì xưa đến nay chỉ làm nghề này mà giờ bỏ thì chẳng biết làm gì khác, cho nên cứ thế cố gắng bám trụ vậy thôi.”
Nhìn về cặp tàu lớn của gia đình nằm im lìm bên bến, chị Giàu không giấu được sự xúc động. Chị cho biết, nghề đi biển đã gắn bó với gia đình mình gần một thế kỷ qua. Biển không chỉ nuôi sống mà còn giúp nhiều thế hệ trong gia đình chị có cuộc sống ổn định hơn. Vậy mà giờ đây, từ ngày cửa biển bị “khóa”, hai chiếc tàu lớn của gia đình chỉ còn biết nằm im bên bờ.
Thời gian đầu, chị vẫn cố gắng vươn khơi để duy trì kinh tế gia đình và giữ chân những bạn thuyền đã gắn bó nhiều năm. Thế nhưng, tình trạng bồi lắng ngày càng nghiêm trọng của cửa biển đã biến luồng lạch thành những “chiếc bẫy” khiến tàu thuyền liên tục mắc cạn, hư hỏng và thiệt hại.
Cứ thế, những chuyến biển từng đầy ắp cá tôm, từng là niềm tự hàocủa gia đình, nay lại trở thành gánh nặng về tâm lý lẫn kinh tế. Rồi từng người bạn thuyền cũng dần rời đi để tìm công việc khác ổn định hơn, bỏ lại phía sau là con tàu phủ bụi và những ký ức của một thời bám biển.
Cũng giống những cửa biển khác, buổi sáng ở cửa biển Đá Bạc cũng bắt đầu chậm hơn trước rất nhiều. Không còn cảnh những con tàu chen nhau cập bến sau một đêm dài ngoài khơi. Không còn tiếng người í ới gọi nhau bốc dỡ hải sản giữa mùi cá tươi và tiếng máy tàu rền vang cả vùng cửa biển.
Bến cá giờ thưa vắng. Vài chiếc ghe nhỏ lặng lẽ chạy qua chạy lại ngoài cửa biển để trung chuyển hàng hóa từ những con tàu đang neo xa ngoài luồng.
Trên bờ, những chiếc thùng xốp nằm im dưới mái tôn nóng hầm hập. Ở cuối bến, một người đàn ông đang lom khom giật dây nổ máy tàu. Ông làm vậy không phải để chuẩn bị cho chuyến biển kế tiếp… mà đơn giản chỉ muốn nghe lại tiếng máy cho đỡ nhớ biển.
Người đàn ông ấy là Trần Văn Chúc, ngụ ấp Xào Lưới A, xã Đá Bạc, người đã có hơn 20 năm bám biển nơi đây. Đôi bàn tay chai sần, thô ráp của ông ghì mạnh sợi dây nổ, nhưng tiếng máy vừa vang lên rồi lại vụt tắt… giống như hy vọng được trở lại với biển của ông lúc này.
Từ ngày “treo lưới”, nỗi lo cơm áo, gạo tiền và cả tương lai của gia đình cứ ngày một đè nặng lên vai người đàn ông quanh năm quen với sóng gió ngoài khơi.
Chẳng còn được ra biển, một ngày với ông Trần Văn Chúc giờ dài hơn thường lệ. Ngày nào ông cũng ra cửa biển nhìn con nước, thậm chí thức dậy giữa đêm để chờ những đợt nước lớn hiếm hoi, tranh thủ đưa tàu ra khơi được ngày nào hay ngày đó. Những ngày phải ở lại trên bờ, ai thuê gì ông làm nấy, từ việc vặt đến phụ hồ, ễn có thêm thu nhập để gồng gánh gia đình.
“Nếu thuyền nhỏ thì ra đánh bắt bình thường, còn nếu thuyền từ 15m trở lên là rất khó ra biển, nếu ra là phải chờ nước lớn, chứ nước ròng là mắc cạn liền. Bị bồi lấp nghiêm trọng lắm rồi. Nói chung đánh bắt xong muốn vào sớm cũng không được, buộc phải chờ con nước lớn mới vào được, ngoài ra phải lệ thuộc vào ghe kéo nữa, nếu nước cạn quá ghe kéo không ra kéo được thì mình phải neo thuyền ngoài khơi. Lúc đó hải sản giảm chất lượng, ví dụ mình vào sớm thì hải sản sẽ được giá hơn, còn mình vào trễ thì giá giảm xuống.”
Ở vùng ven biển, nghề biển không chỉ là kế sinh nhai của riêng chủ tàu hay bạn ghe, mỗi con tàu ra khơi còn kéo theo biết bao công việc phía sau như người bán dầu, vá lưới, làm đá lạnh, lao động bốc vác hay thương lái thu mua hải sản… Khi tàu nằm bờ, cả chuỗi sinh kế ấy cũng chững lại. Tại một vựa hải sản gần cửa biển Nhà Mát, những chiếc khay nhựa nằm trống trơn trên nền xi măng còn loang nước biển.
Ông Lê Phước Hoài – Chủ vựa thu mua hải sản Kim Loan cho biết, lượng hải sản thu mua đã giảm rõ rệt so với trước đây. Có những hôm, chờ từ sáng đến trưa vẫn không đủ cá để giao cho các đầu mối. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài, những người thu mua cũng buộc phải rời đi, tìm nơi khác thuận lợi hơn để mưu sinh và ổn định cuộc sống:
“Hiện nay, nguồn hàng hải sản từ cửa biển Nhà Mát không còn vào được nhiều như trước mà chuyển sang các cửa biển khác. Vì vậy, lượng hàng hóa để mua bán tại địa phương giảm mạnh, hoạt động kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn. Khi nguồn hàng ít đi thì các cơ sở thu mua cũng không thể thuê mướn nhiều lao động địa phương như trước.
Ngoài ra, do tàu lớn phải neo ngoài khơi nên muốn đưa hải sản vào bờ phải trung chuyển bằng tàu nhỏ, làm phát sinh thêm chi phí vận chuyển. Trong quá trình sang hàng, các loại hải sản tươi sống dễ bị hao hụt, giảmchất lượng; còn hàng ướp đá thì độ tươi ngon cũng không còn được như trước. Chính vì vậy, nhiều bạn hàng, mối lái từng gắn bó lâu năm với chúng tôi cũng dần rời đi vì cho rằng chất lượng hải sản không còn đảm bảo. Giá bán hải sản ở đây hiện cũng thấp hơn so với nhiều cửa biển khác.”
Một ngày nữa lại trôi qua trên những cửa biển đang bị bồi lắng nghiêm trọng, không khí ảm đạm, hiu hắt vẫn hiện diện rất nặng nề. Vài chiếc ghe nhỏ vẫn đang tất tả chuyển từng sọt cá vào bờ. Xa hơn một chút, những con tàu lớn nằm im lìm giữa sóng nước.
Những ngư dân lam lũ vùng biển vẫn ngóng mắt ra khơi. Nhưng giờ đây, điều họ chờ không còn là mùa cá mới, mà là một lối ra biển được khơi thông trở lại. Bởi nếu những cửa biển tiếp tục bị “khóa”… thì không chỉ tàu cá mắc cạn mà cả sinh kế của những con người từng sinh ra, lớn lên và gắn bó với nghề biển cũng sẽ dần “mắc cạn” theo.
"ĐỂM NGHẼN" TRONG ĐẦU TƯ HẠ TẦNG CẢNG BIỂN
Tình trạng bồi lắng nghiêm trọng tại các cửa biển Cà Mau đang đẩy ngư dân ngày càng xa biển. Dù đã nhiều lần nạo vét, các giải pháp tạm thời vẫn chưa thể “chống đỡ” hiệu quả trước tốc độ bồi lắng tự nhiên, khiến ngân sách liên tục bị tiêu tốn mà hiệu quả chưa như kỳ vọng.
Lưu trú tại Khánh Hội (xã Khánh Lâm) một đêm trong màn sương lạnh pha lẫn vị mặn của muối để nghe tường tận câu chuyện “ngốn tiền” nhưng lại không hiệu quả tại cửa biển này 8 năm về trước.
Năm 2018, Sở NN&PTNT (cũ), tỉnh Cà Mau, làm chủ đầu tư triển khai Dự án “Đầu tư xây dựng bến cá kết hợp với khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão cửa biển Khánh Hội” với tổng kinh phí 134 tỷ đồng. Trong đó, hạng mục nạo vét luồng tàu (dài khoảng 4,5 km), hệ thống phao báo hiệu và trụ neo tàu có kinh phí 33 tỷ đồng.
Nhưng một năm sau khi nạo vét, bùn cát lại bồi lắng như cũ đã làm “lỡ duyên” tàu – bến. Từ đó đến nay, cửa biển Khánh Hội chưa có thêm một lần nạo vét quy mô nào nữa. Ông Trần Công Mười – Phó Chủ tịch UBND xã Khánh Lâm cho biết:
“Người dân ở cửa biển Khánh Hội chủ yếu sinh sống bằng nghề khai thác và mua bán thủy hải sản. Nhưng cửa biển bồi lấp, tàu cá lớn không ra vào được thì rất khó khăn. Chúng tôi đề xuất UBND tỉnh, Sở Xây dựng, Sở NN&MT xem xét nạo vét cửa biển này kết hợp thu hồi sản phẩm”.
Tương tự, tại cửa biển Đá Bạc (xã Đá Bạc), cách đây 10 năm cũng có một dự án nạo vét luồng lạch lấy hàng chục ngàn mét khối bùn cát đem đi nơi khác. Nhưng vì nạo vét không “đến nơi đến chốn” nên vài năm sau cửa biển lại bồi lắng nghiêm trọng và kéo dài đến nay. Cửa biển nhộn nhịp săn “lộc trời” là cá cơm và con ruốc đạt 4 tấn/ngày cũng đành phải chịu trận nhiều năm vì ghe tàu mắc cạn.
Ông Nguyễn Cảnh Hạnh – Phó Chủ tịch UBND xã Đá Bạc cho biết: “Tại thời điểm đó do nguồn kinh phí hạn chế nên việc nạo vét không được sâu nên vài năm sau là bồi lắng lại. Trước đây cũng có các doanh nghiệp đăng ký kế hoạch nạo vét tận thu thu sản phẩm (cát bùn) nhưng đến nay vẫn chưa có đơn vị nào đến đây nạo vét. Nếu có nguồn vốn từ Trung ương hỗ trợ thêm cho phát triển kinh tế biển ở ĐBSCL thì chúng tôi kỳ vọng được bố trí nhiều kinh phí để phục vụ cho việc nạo vét cửa biển sâu và xa hơn, tạo điều kiện cho tàu cá ra vào thuận tiện và phục vụ phát triển kinh tế biển của địa phương”.
Theo tuyến biển từ Ðông sang Tây trên địa bàn tỉnh Cà Mau có hơn 87 con sông ăn thông ra biển, với nhiều cửa biển lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho ngư dân khai thác nguồn lợi tự nhiên. Riêng vùng biển Tây của tỉnh đã xác định có tổng trữ lượng hải sản ước khoảng 478.680 tấn, khả năng khai thác khoảng 223.000 tấn/năm. Ngư trường Cà Mau là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước với đội tàu hùng hậu 5.200 chiếc vươn khơi.
Trù phú là vậy, nhưng Cà Mau cũng là địa phương bị ảnh hưởng nặng nề từ quy luật khắc nghiệt của tự nhiên. Với đặc điểm nước biển mang nhiều phù sa, cùng với việc phải chịu tác động trực tiếp bởi chế độ bán nhật triều không đều ở biển Ðông và nhật triều không đều ở biển Tây, đã tạo nên hiện tượng bồi lắng nhanh tại hầu hết các cửa biển, như: Nhà Mát, Bồ Ðề, Rạch Gốc, Bảy Háp, Cái Ðôi Vàm, Khánh Hội, Đá Bạc,...
Đặc biệt, sức bồi tụ tự nhiên quá lớn vượt quá khả năng can thiệp kỹ thuật. Ông Lê Tiến Dũng – Quyền Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng phường Hiệp Thành dẫn chứng tại cửa biển Nhà Mát:
“Khi nạo vét xong, ở mức thủy triều trung bình, ta đo từ đáy kênh đến mặt nước đỉnh triều là 4 mét. Khu vực của mình là khu vực bồi, nạo vét 2 năm là hiện tượng bồi lắng quay lại như cũ, hiện giờ tại cửa biển Nhà Mát đo được là bùn cát đã bồi lấp 2,5 mét rồi, chỉ còn được 1,5 mét nước sâu cho tàu bè lưu thông. Nếu những lúc triều kiệt, chỉ còn có 3 tất nước, mình có thể xoắn quần lội được luôn.
Trong thời gian qua, Sở Xây dựng có trình danh mục nạo vét thu hồi sản phẩm theo Nghị định của Chính phủ, trong đó có kênh 30/4 (Nhà Mát), theo dự kiến thì năm 2027 mới thi công. Nhưng hiện giờ địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn, đã vào mùa cao điểm đánh bắt của ngư dân rồi, địa phương tiếp tục kiến nghị tiến hành ngày trong năm 2026 này”.
Theo Sở NN&MT tỉnh, nạo vét luồng lạch và cửa biển là hoạt động thường niên hằng năm của tỉnh Cà Mau để phục vụ lưu thông thủy, sản xuất nông nghiệp và hoạt động đánh bắt hải sản của ngư dân. Nhưng nhiều lúc địa phương vẫn bị “hụt hơi” vì gặp khó về nguồn kinh phí.
Trước tình trạng “dầu sôi lửa bỏng” cửa biển dần bị “khóa”, ông Phạm Văn Mười – Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Cà Mau cho biết vẫn phải tiến hành biện pháp tạm thời:
“Nguồn hỗ trợ dịch vụ sản phẩm công ích thủy lợi hằng năm chỉ phục vụ việc khơi thông dòng chảy và nạo vét kênh, mương; duy tu, bảo dưỡng các công trình thủy lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Các cửa sông thì lớn, thi công nạo vét đôi lúc gặp sóng gió cũng khó khăn. Quy định về bãi chứa khoáng sản, bùn thải (sản phẩm nạo vét) cũng cần phải có quy hoạch chỗ nơi cụ thể, về phần này các xã/phường có cửa biển đang xem xét bố trí.
Hiện nay, Chi cục Thủy lợi đang khảo sát các cửa biển có tàu biển lớn ra vào, như: Khánh Hội, Gành Hào, Cái Đôi Vàm,… để có giải pháp khơi luồng tạm cho tàu cá ra vào. Khơi luồng tạm thì kinh phí không lớn và chúng tôi sẽ nghiên cứu những nguồn vốn phù hợp mà đề xuất UBND tỉnh phê duyệt”.
Theo Sở Xây dựng, biện pháp “khắc chế” tình trạng bồi lắng tại các cửa biển trong tỉnh Cà Mau đang bị kẹt giữa bài toán kinh phí và hiệu quả sau nạo vét. Trước đây, cửa biển Bồ Đề (huyện Năm Căn cũ) đã từng được Bộ GTVT (cũ) cân nhắc cấp vốn nạo vét để phục vụ cho tàu tải trọng 10.000 tấn. Tuy nhiên với đặc thù của vùng này có tốc độ bồi lắng rất nhanh (1 năm sau nạo vét) nên không phát huy được hiệu quả và gây lãng phí nên Bộ đã cân nhắc chưa nạo nét cửa Bồ Đề.
Để giảm “gánh nặng” chi phí, tỉnh Cà Mau triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm trong vùng nước cảng biển và đường thủy nội địa theo Nghị định 57/2024/NĐ-CP, mời gọi thành công doanh nghiệp đầu tư nạo vét hai cửa Cái Đôi Vàm và Rạch Gốc.
Tuy nhiên, trong quá trình khai thác và tận thu, doanh nghiệp là gặp khó khăn trong việc tìm đầu ra sản phẩm nên hai dự án này cũng chỉ mới nạo vét một phần và “đóng băng” đến nay. Ông Dư Minh Hùng – Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Cà Mau cho biết:
“Vừa qua chúng tôi đã mời gọi doanh nghiệp đầu tư nạo vét cửa biển Khánh Hội nhưng đã mời hai lần không có nhà đầu tư nào tham gia. Tiếp tục mời lần ba, nếu không có nhà đầu tư nào thì có lẽ phải tính toán đến việc dùng ngân sách của tỉnh để đầu tư. Hiện nay trong các quy hoạch đường thủy nội địa, cảng biển, cảng sông của tỉnh Cà Mau sau hợp nhất đã có.
Nhưng mình chỉ mới dừng lại ở mức nạo vét để đảm bảo lưu thông mà thôi, còn các dự án kè chắn cát hoặc các công trình kiên cố thì đó là những dự án cần vốn đầu tư rất lớn. Trong khi đó, tỉnh chưa kham nỗi việc này, do nguồn lực của tỉnh cần phải cân nhắc, có những ưu tiên khác nhau để quyết định đầu tư”.
Năm 2024, UBND tỉnh Cà Mau đã phê duyệt Ðề án “Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Mục tiêu đề án đặt ra là tập trung nguồn lực để đầu tư nâng cấp, xây dựng hoàn thành 13 cảng cá, gồm 1 cảng cá loại I, 6 cảng cá loại II và 6 cảng cá loại III. Bên cạnh đó, đầu tư nâng cấp, xây dựng hoàn thành 13 khu neo đậu tránh trú bão, đảm bảo sức chứa lên đến 7.700 tàu cá vào neo đậu tránh trú bão an toàn.
Tiến hành nạo vét, khơi thông luồng vào cảng và khu neo đậu, có biện pháp ngăn chặn, hạn chế sự bồi lắng tự nhiên, đảm bảo an toàn cho tàu cá ra vào. Ðể thực hiện hoàn thành các mục tiêu trong Đề án này, toàn tỉnh cần khoảng 5.239 tỷ đồng.
Trong tất cả các đại Dự án quy hoạch “cơ đồ” vùng biển Cà Mau, cửa biển bị bồi lắng ngoài kia như đang bị lọt thỏm với biện pháp nạo vét tạm thời. Ngư dân vẫn phải trông chờ vào từng con nước, trong khi đây là sinh kế, duy trì tốc độ phát triển kinh tế vùng ven biển. Đã đến lúc Cà Mau cần một cách tiếp cận mang tính bền vững hơn: một chiến lược tổng thể về quản lý, quy hoạch và đầu tư hạ tầng cửa biển; những công trình đủ tầm để duy trì luồng lạch ổn định, thích ứng với quy luật bồi – xói tự nhiên, tạo hành lang thông suốt cho tàu thuyền vươn khơi bám biển.
MỞ LỐI RA BIỂN, CẦN MỘT CHIẾN LƯỢC DÀI HƠI
Chúng ta đã thấy những khó khăn mà ngư dân Cà Mau đang đối mặt khi các cửa biển bị bồi lấp nghiêm trọng. Thực tế cho thấy, bài toán bồi lấp cửa biển không thể chỉ giải quyết bằng việc nạo vét đơn lẻ, mà cần được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển kinh tế biển bền vững, gắn với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.
Vậy, cần những giải pháp căn cơ, lâu dài nào để “mở đường ra biển”, giúp địa phương và ngư dân có thể hướng biển mà đi, làm giàu từ biển một cách bền vững?
Ở Cà Mau, cứ hễ sau mỗi vòng tuần hoàn của thuỷ triều, biển ở đây đều gửi lại phù sa để bồi đắp cho đất liền. Kết quả rút trích dữ liệu từ công nghệ viễn thám RS (Remote Sensing) và GIS (Geographic Information System) cho thấy, khu vực phía Đông Cà Mau từ huyện Đầm Dơi (cũ) tới Ngọc Hiển (cũ) hầu hết chỉ xảy ra quá trình xói lở từ 1989 - 2017.
Còn ở khu vực phía Tây Cà Mau từ mũi Cà Mau đến Huyện U Minh (cũ) thì quá trình bồi tụ lại chiếm ưu thế trong giai đoạn 1989 - 2015.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn – Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên (Đại học Cần Thơ), nguyên Phó Viện trưởng Viện DRAGON – CTU cho biết, Cà Mau đã góp phần khẳng định ĐBSCL là một trong những đồng bằng trù phú nhất Đông Nam Á vì được thừa hưởng “đặc ân” của thiên nhiên:
“Bán đảo Cà Mau từ xưa đến nay luôn nhận được phù sa của hệ thống các sông trong khu vực ĐBSCL, mà trữ lượng lớn nhất là thông qua hai cửa sông Tiền và sông Hậu. Phù sa từ sông đổ ra biển thường bồi lắng tại các cửa sông (nơi tiếp giáp với biển). Bên cạnh đó, dòng hải lưu của biển chảy đến đâu cũng đem một phần phù sa bồi đắp cho Cà Mau giúp vùng đất này luôn có khuynh hướng lấn xa ra biển. Về mặt sinh thái, đây là điều kiện tự nhiên rất tốt. Chỉ là, ngày xưa đội tàu của chúng ta nhỏ, bây giờ kinh tế biển phát triển, đầu tư đội tàu công suất lớn thì việc đi lại hạn chế thôi”.
Tuy nhiên, cùng với tình trạng bồi lắng cửa biển, tình trạng sạt lở tại tuyến đê biển Tây tỉnh Cà Mau đang tiếp tục diễn biến phức tạp và trở thành một trong những thách thức lớn. Chỉ riêng năm 2025, toàn tỉnh ghi nhận hơn 400 điểm sạt lở với tổng chiều dài khoảng 629km, làm mất hàng ngàn hecta đất và rừng ngập mặn ven biển.
Vì vậy, để “mở đường ra biển”, Thạc sĩ Trần Văn Hừng – nguyên Giám đốc Trung tâm Kiểm định và Tư vấn xây dựng, Giảng viên Khoa Kỹ Thuật Thủy Lợi (Trường Bách Khoa, Đại Học Cần Thơ) cho rằng: Cà Mau đang kiên nhẫn triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá nạo vét kết hợp thu hồi sản phẩm trong vùng nước cảng biển và vùng nước đường thủy nội địa. Với đặc thù địa hình vừa bồi vừa xói, sản phẩm tận thu sau nạo vét được khuyến khích sử dụng vào việc bồi đắp cho các vị trí bị sạt lở trên địa bàn.
Ông Hừng phân tích: “Dùng các túi vải để bỏ bùn vào và chất dọc theo các bờ sông, phải làm từ từ chứ không thể nào làm cùng một lúc, khi đó đất sẽ nén từ từ và giữ được bờ. Nói theo cách ông bà xưa là dằn bột, xoay bột xong đổ vô túi vải dằn cho nước chảy hết còn đọng lại bột thì câu chuyện tận dụng sản phẩm nạo vét cửa biển cũng vậy. Trong bùn có những hạt mịn có thể cô đặc lại, nước đi ra được và đất được giữ lại”.
Thực tế, tại nhiều nơi, giải pháp này được cho là không hiệu quả do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nếu chỉ nạo vét mà không có các công trình hỗ trợ như đê chắn cát, kè chắn sóng,… thì cũng sẽ nhanh chóng bị bồi lấp trở lại. Hoặc kỹ thuật đổ thải sản phẩm nạo vét không hợp lý thì lượng bùn cát nguy cơ bị sóng đánh tràn trở lại cửa mà trường hợp ở Khánh Hội là một bài học “đắt giá” trong lần nạo vét năm 2018.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn – Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên (Đại học Cần Thơ), nguyên Phó Viện trưởng Viện DRAGON – CTU cho rằng, đầu tư hạ tầng biển kiên cố nên bắt đầu từ giải pháp công trình:
“Mình xây dựng giống như cảng Hòn Khoai, xây dựng cầu cảng vươn ra xa ngoài biển, tàu bè neo đậu ở đó có vùng nước sâu, xe tải chạy ra chở cá vào. Trên thế giới người ta có mô hình lập trạm ngoài biển, ở đó cung ứng đầy đủ dịch vụ hậu cần nghề cá, như: xăng dầu, nước đá, ngư cụ,.. và họ ở hẳn trên các ụ nổi. Làm theo giải pháp này thì chi phí đầu tư ban đầu lớn nhưng hiệu quả sử dụng lâu dài. Nếu nạo vét thì vài năm sau bùn đất cũng bồi tụ lại”.
Các chuyên gia cho rằng, những giải pháp đặt ra cho Cà Mau trong việc “mở đường ra biển” đều cân tính lợi ích và hiệu quả. Tuy nhiên, mấu chốt cho những ý tưởng này là phải huy động nguồn vốn để thực hiện. Quy hoạch đầu tư vào hạ tầng cảng biển của Cà Mau hiện nay đang trông chờ vào Ðề án “Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nghề cá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” với tổng vốn 5.239 tỷ đồng.
Ông Dư Minh Hùng – Giám đốc Sở Xây dựng Cà Mau cho biết thêm: “Trung ương đang hỗ trợ cho Cà Mau ưu tiên việc chống sạt lở, chỉ riêng nguồn này thôi đã là rất nhiều tiền rồi. Về giải pháp tổng thể (quy hoạch và đầu tư hạ tầng cửa biển) thì phải là nghiên cứu ở tầm quốc gia. Được biết từ phía Bộ - Ngành Trung ương, khi nào có dự án trọng điểm quốc gia thì mới tính đến các dự án cụ thể. Quy hoạch và đầu tư hạ tầng cửa biển Cà Mau phải có dự án lớn tầm cỡ ngang hàng với các dự án lớn, như: xây dựng cảng Trần Đề hoặc Hòn Khoai và mang tính cấp vùng thì mới làm được, chứ riêng địa phương Cà Mau thì không làm được.
Nguồn lực đầu tư hiện tại của Cà Mau thì cũng huy động từ Trung ương, ngân sách tỉnh và xã hội hóa. Tuy nhiên, tùy vào tính chất của từng dự án mà chúng tôi sẽ tham mưu UBND tỉnh xin nguồn từ Trung ương. Hiện nay thì Trung ương cũng đang tập trung cho nhiều dự án trọng điểm quốc gia nên nguồn lực phân bổ hỗ trợ cho các tỉnh trong từng lĩnh vực chắc sẽ có hạn chế”.
Để giải bài toán về hạ tầng, gỡ các “nút thắt” hiện nay, ông Phạm Văn Mười – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau cho biết: Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn phân tán cho nhiều mục tiêu, tỉnh Cà Mau đang tập trung nghiên cứu, hoàn thiện quy hoạch, tạo dư địa để thu hút các siêu dự án đầu tư quy mô tỷ đô, tạo động lực phát triển kinh tế biển bền vững trong tương lai.
Điểm nhấn trong tư duy phát triển được đặt ra là xây dựng kinh tế biển theo mô hình “hệ sinh thái phát triển” tích hợp, trong đó hạ tầng, thể chế, doanh nghiệp và nguồn nhân lực được kết nối, vận hành trong mối quan hệ hữu cơ, thay vì phát triển rời rạc như trước đây:
“Chúng tôi đã phối hợp với các viện, trường thuộc Bộ Xây dựng, Bộ NN&MT và các đơn vị tư vấn chuyên ngành. Phối hợp để khảo sát về thủy văn, đánh giá diễn biến của bồi lắng và dòng chảy, tác động của biến đổi khí hậu,…để có cơ sở khoa học mà phục vụ quy hoạch và đầu tư hạ tầng phù hợp”.
Kinh tế biển được xác định là lĩnh vực mũi nhọn, giữ vai trò động lực trong chiến lược phát triển của Cà Mau. Với lợi thế ba mặt giáp biển, hệ thống cửa biển, ngư trường và tiềm năng lớn về thủy sản, năng lượng tái tạo, logistics và du lịch, địa phương đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đầu tư hạ tầng biển theo hướng hiện đại, kết nối, đồng bộ, mang tính dài hơi.
Việc phát triển cảng biển, khu hậu cần nghề cá, hạ tầng giao thông kết nối và các công trình chống sạt lở, bồi lắng,… không chỉ giúp khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế biển, mà còn tạo nền tảng để Cà Mau vươn ra biển lớn, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.