ĐANG TẢI DỮ LIỆU...

ĐBSCL: Có hệ thống cung cấp nước sạch, người dân vẫn “khát” 

Hà Hương
Tỉnh nào cũng có hệ thống cung cấp nước sạch, thế nhưng một nghịch lý là từ thành thị đến nông thôn, nhiều người dân vẫn đang phải chấp nhận dùng nước tự nhiên. Cơn khát nước sạch càng trầm trọng trong mùa khô...
Việc thiếu nước sạch sẽ có tác động bất lợi đến các nhóm cộng đồng nghèo dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người tị nạn, người bản địa, thiểu số…

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

Tại Lễ Mít tinh hưởng ứng Ngày nước thế giới và Khai mạc Tuần lễ nước quốc tế tại Việt Nam vào cuối tháng 3 vừa qua, các chuyên gia đã công bố số liệu thống kê, hiện nay, trên toàn thế giới, có khoảng 1,9 tỷ người đang sống trong các khu vực khan hiếm nước; hơn 2,1 tỷ người không được tiếp cận các dịch vụ về nước uống bảo đảm an toàn. 

Dự kiến, đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng thêm khoảng 2 tỷ người và nhu cầu về nước toàn cầu có thể tăng lên tới 30% so với hiện nay. Việc thiếu nước sạch sẽ có tác động bất lợi đến các nhóm cộng đồng nghèo dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người tị nạn, người bản địa, thiểu số… 

Tại Việt Nam, ĐBSCL dù được xem là một trong những vùng dồi dào nước trên thế giới với tổng dòng chảy trung bình/năm của sông Mekong là 475 tỉ m3, trong đó mưa tại chỗ ở ĐBSCL chiếm 11%, tức chiếm 52 tỉ m3; tuy nhiên nhiều hộ dân nơi đây vẫn thiếu nước cho lao động sản xuất, đặc biệt là nguồn nước sạch đảm bảo chu cầu sinh hoạt trong đời sống hàng ngày. 

Ghi nhận tại tỉnh Kiên Giang, dự án cung cấp nước sạch cho 5 ngàn hộ dân ở 5 xã ven biển của huyện An Biên gồm Tây Yên, Nam Yên, Tây Yên A, Nam Thái và Nam Thái A, đã đi vào hoạt động từ 2018, nhưng do nguồn vốn ban đầu hạn hẹp, qui mô dự án có hạn, nên đến nay vẫn còn gần 50% hộ dân thiếu nước sạch, chưa được hưởng lợi từ dự án. 

Là một trong khoảng 200 hộ dân thuộc 4 ấp ven biển của xã Nam Thái A luôn trong tình trạng thiếu nước ngọt gay gắt nhất trong mùa khô năm nay, chị Lê Thị Hạnh, 44 tuổi trú ấp Bảy Biển xã Nam Thái A cho rằng: trước đây khi chưa có dự án cung cấp nước sạch, người dân ở tuyến đê biển này rẫt dễ đổi nước ngọt để dùng nhưng từ khi có dự án này và cống ngăn mặn trên đê biển được xây dựng cách đó không xa thì không ai chở nước ngọt đến đổi cho bà con khiến cuộc sống của người dân ở đây càng khó khăn hơn. 

Do 4 ấp Bảy Biển, Xẻo Đôi, Xẻo Quao A, Xẻo Vẹt ở phía ngoài đê quốc phòng, giáp với biển nên hiện nay, người dân khu vực này vẫn sống một cuộc sống 3 không: không đường, không điện và không nước sạch. Tuy nhiên, niềm mong ước lớn nhất của hơn 200 hộ dân này là mong dự án kéo nước ngọt về phục vụ cho đời sống hàng ngày. Chị Lê Thị Hạnh cho biết:

“Có nước sạch về cho bà con là người ta mừng rồi. Ở đây nhà có lu nước mua nhiều thì xải nhiều, có ít thì xài ít. Mình múc nước dưới kênh mặn mấy chục phần ngàn lận nhưng cũng vẫn xài chứ không xài thì nước đâu mà dùng. Khi nào mình rửa, xả rồi thì múc thêm ít nước ngọt xả lại. Bởi vậy thèm nước lắm”.

Chỉ cách đầu cuối của đường ống dự án 500m nhưng người dân ở khu vực ấp Sáu Biển, ấp Xẻo Đôi vẫn chưa được tiếp cận nguồn nước sạch của dự án. Ở khu vực này, người dân đều tự khoan cây nước với cho phí đắt đỏ nhưng chất lượng nước bị phèn, không đảm bảo để sử dụng trong sinh hoạt. Bà Nguyễn Thị Được và bà Nguyễn Thị Tủ ở ấp Xẻo Đôi cho biết:

”Nước khoan của mình không ổn đâu, không có nấu ăn được, chỉ xài thôi, giặt đồ còn đóng phèn nữa. Từ khi bắt đầu nuôi tôm tới giờ xài nước đổi, 1 lu 50 ngàn đồng mà nước đổi giờ đâu còn ai đi đổi cho mình nữa đâu nên phải đi mua nước suối bình xài. 2-3 ngày là hết 1 bình nên tôi mong có nước ngọt sử dụng lắm, chứ xài nước cây cực khổ”.

“Bây giờ cũng cần có nước để mình vô mình sài. Tôi cũng ham có kéo vô đây để tôi vô mà có kéo đâu Ngoài kia người ta có rồi chắc có tới mình mà sao tới giờ mất tiêu luôn”.

Ông Nguyễn Văn Tiến -Phó Chủ tịch UBND xã Nam Thái A cho biết: Nam Thái A là xã xa nhất và khó khăn nhất của huyện An Biên, cũng là một trong 12 xã nằm trong vùng đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo của tỉnh Kiên Giang. Và điều đáng nói hiện nay là dự án cung cấp nước sách mới chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu của các hộ dân trong xã, vẫn còn gần 1.200 hộ đang cần nước sạch.

Theo ghi nhận, trong những ngày nắng nóng đỉnh điểm, Trạm cấp nước khu vực 4 liên xã huyện An Biên đặt tại xã Nam Yên đã chạy công suất hơn 2.800m3 nước/ngày, gần đạt công suất thiết kế 2.900m3/ngày để phục vụ nước sạch cho hơn 5 ngàn hộ dân, giải quyết được bức xúc về nước sạch cho các xã ven biển nhiều năm nay. Tuy nhiên, do nguồn vốn thực hiện dự án còn hạn chế, một số nơi xa khu dân cư nên vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu cho bà con.

Trao đổi về thực trạng này, ông Nguyễn Thanh Bình - Giám đốc Trung tâm nước Sạch tỉnh Kiên Giang cho rằng: Trong số gần 4000 hộ dân đang cần nước sạch, đa phần dân cư ở xa các trục đường giao thông, lộ nông thôn khó triển khai đường ống nên không được đưa vào dự án ban đầu. Một số người dân do có cây nước sạch lúc đầu đã từ chối, sau thấy hiệu quả của dự án nên đã xin được tham gia. 

Ngoài ra, có 270 hộ đã lắp đồng hồ nước nhưng không sử dụng, Trung tâm nước sạch phải thu hồi để lắp cho các hộ khác. Trước mắt, thực hiện chỉ đạo của tỉnh về chống hạn mặn đang diễn ra gay gắt năm nay. Trung tâm sẽ sử dụng nguồn vốn tự có cung cấp bồn, lu cho các hộ dân ở xa. Căn cứ từ nguồn vốn tự cân đối của trung tâm, ở những khu vực thuận lợi sẽ tiếp tục kéo dài đường ống hiện có để cung cấp nước sạch cho bà con.

“Trung tâm đang tổ chức triển khai cho các huyện báo cáo để cấp nước theo hộ gia đình. đối với các xã đảo ven biển, xã đặc biệt khó khăn có nhu cầu sử dụng nước Trung tâm sẽ tập hợp lại trình UBND tỉnh thành lập một đề án cấp nước theo hộ gia đình theo quy mô onhor lẻ.

Do điều kiện dân cư thưa thớt, chiều dài tuyến ống không thể kéo để phục vụ hết được nên chỉ có cách cấp theo quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình để họ tự đảm bảo sinh hoạt thôi chứ không thể nào nguồn vốn ngân sách có thể kéo 5km chỉ để phục vụ cho vài ba hộ”.

Tương tự, tại Sóc Trăng, những ngày dần đây, người dân tại nơi này vô cùng bức xúc khi lại rơi vào tình trạng “khát” nước sạch, chỉ vì “cung” chưa đáp ứng đủ “cầu”. Theo phản ánh, cứ vào giờ cao điểm, nước chảy nhỏ giọt, thậm chí cúp hẳn nước, ảnh hướng đến nhu cầu sinh hoạt của người dân. 

Ông Võ Văn Kía, Bí thư ấp Mỹ Thạnh cũng thừa nhận vấn đề sử dụng nước sạch của người dân được quan tâm và ngày càng được cải thiện nhưng nhu cầu hiện vẫn còn khá cao, cũng theo ông Kía, hơn 50% người dân đã có nước sạch sử dụng. Tuy nhiên, nhu cầu hiện vẫn còn rất cao, vào những giờ cao điểm không đáp ứng đủ nước sinh hoạt. Đặc biệt, vào mùa khô, xảy ra tình trạng hạn, mặn xâm nhập khiến cuộc sống người dân trở nên vất vả hơn vì thiếu nước sinh hoạt.

Nhiều hộ dân vẫn còn sử dụng nước khoan giếng

Để giải quyết nhu cầu sử dụng nước sạch sinh hoạt của người dân tỉnh Sóc Trăng, trong năm 2018, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng đã tham mưu xây dựng đề án cấp nước sạch sinh hoạt cho các xã xây dựng nông thôn mới tỉnh Sóc Trăng và Đề án hỗ trợ lắp đặt đồng hồ nước và nước sinh hoạt cho hộ nghèo trên địa bàn nông thôn của Tỉnh. 

Các đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt và triển khai, đến nay, mạng cấp nước ngày càng mở rộng phục vụ cho hơn 1.000 hộ dân ở các xã Long Bình, Ba Trinh, Đại Hải, Trinh Phú, Mỹ Tú. Riêng khu vực ấp Mỹ Thạnh, vẫn còn có 320 hộ dân chưa có nước sạch sử dụng sinh hoạt.

Để cấp nước cho khu vực này, địa phương cần đầu tư mở rộng tuyến ống 5.000 m, kinh phí dự kiến khoảng 800 triệu đồng. Cũng theo trung tâm này, việc triển khai cung cấp nước sạch tại địa phương vẫn còn vấp phải nhiều khó khăn do thiếu vốn. 

Bên cạnh đó, tỷ lệ người dân tộc thiểu số và tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo của tỉnh khá cao, nhiều nơi dân cư sống không tập trung. Đặc biệt, một số công trình cấp nước của Trung tâm đang hoạt động quá tải, do việc mở rộng kéo dài tuyến ống cấp nước và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng của người dân. 

Cũng năm trong hoàn cảnh tương tự bàn con ở Kiên Giang và Sóc Trăng, gần 15 năm nay, hàng nghìn hộ dân vùng ven biển xã Bảo Thuận (huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) cũng đã và đau đáu về nỗi niềm thiếu nước sạch sinh hoạt. Một số hộ sống lâu năm tại địa phương này cho biết, kể từ năm 2005, Nhà máy cấp nước xã Bảo Thuận đã được đưa vào sử dụng. 

Từ đây, đã giải quyết được nhu cầu khát khao nước sinh hoạt của hàng ngàn hộ dân làng biển vốn bị nước mặn bao vây. Thế nhưng, dần dà, người dân lại tỏ ra lo lắng vì sợ rằng nước được bơm lên từ nguồn kênh 9A - tuyến kênh xương sống để dẫn nước ngọt từ các con sông lớn thượng nguồn cách xa hàng chục km về làm ngọt hóa cánh đồng Ba Tri từ hàng chục năm qua, không đảm bảo hợp vệ sinh do dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật của hàng ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp. 

Đáng quan tâm hơn nữa là có quá nhiều chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm có nguy cơ xả thải trực tiếp ra kênh rạch làm ô nhiễm nguồn nước mà khó ai kiểm soát được. Trước hoàn cảnh này, nhiều hộ dân đã lựa chọn việc bơm nước trực tiếp từ ao hồ lên lắng lọc để giặt giũ, còn nước dùng trong ăn uống và tắm rửa phải sử dụng từ nguồn nước mưa được dự trữ hoặc mua nước ngầm được vận chuyển từ nơi khác đến với giá khá cao, dù không thoải mái nhưng họ vẫn phải chấp nhận.

Nhận định về nguyên nhân của câu chuyện thiếu nước sạch phục vụ đời sống, ông Đinh Diệp Anh Tuấn - Chánh văn Phòng Viện nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ cho biết, hiện nay, một số nhà máy cấp nước đô thị tại ĐBSCL còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, công nghệ xử lý còn lạc hậu. 

Trong khi đó, công suất khai thác chỉ đạt khoảng 70% so với công suất thiết kế. Mặc khác, hệ thống cấp nước được xây dựng qua nhiều thời kỳ, nhiều đường ống đã xuống cấp, hư hỏng, chắp vá, tỷ lệ thất thoát cao. 

Nghiên cứu mới đây từ Hội Cấp thoát nước Việt Nam về vấn đề nước sạch cho người dân miền Tây, thì các nhà máy nước cấp cho các đô thị toàn vùng ĐBSCL hiện nay khoảng 985.017 m3/ngày đêm.

Nguồn nước mặt chủ yếu từ sông Tiền và sông Hậu, tổng công suất khai thác khoảng 650.000m3/ngày (tương ứng khoảng 66%) và nguồn nước ngầm được khai thác với tổng công suất khoảng 335.000 m3/ngày đêm (tương ứng khoảng 34%).

Các tỉnh chủ yếu khai thác nguồn nước ngầm có Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Long An. Riêng khu vực nông thôn chủ yếu sử dụng nguồn nước riêng lẻ hộ gia đình. Hiện, toàn vùng ĐBSCL có khoảng 4.200 nhà máy nước tập trung với quy mô công suất từ vài chục m3/ngày đêm đến 500 - 100 m3/ngày đêm... 

Đáng lưu ý, tại các địa phương, cán bộ quản lý tài nguyên nước còn thiếu về số lượng, không có chuyên môn sâu về chuyên ngành, hoạt động còn mang tính kiêm nhiệm. 

Do kinh phí hạn chế nên công tác xây dựng mạng lưới các điểm, trạm quan trắc, giám sát tài nguyên nước; điều tra, thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước khó thực hiện. 

Ý thức chấp hành pháp luật về tài nguyên nước của người dân còn chưa cao, vẫn còn nhiều tổ chức, cá nhân xả nước thải chưa qua xử lý vào môi trường; sử dụng nước còn lãng phí, chưa hiệu quả, tình trạng hành nghề khoan nước dưới dất trái phép còn diễn ra phức tạp, khó kiểm soát...

Không thể phủ nhận, nước là nhu cầu tất yếu của cuộc sống, vì vậy tiếp cận nguồn nước an toàn là nền tảng cho sức khỏe cộng đồng - điều này rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững, hướng đến một thế giới ổn định và thịnh vượng. Chúng ta sẽ không thể tiến lên toàn cầu hóa trong khi rất nhiều người đang sống mà không có nguồn nước sử dụng an toàn. 

Chính vì thế, làm thế nào để ai cũng có nước sạch để sử dụng là một câu hỏi lớn cần có lời giải đáp ngay lúc này. Theo các chuyên gia, có nhiều giải pháp cần nghiên cứu thực hiện, nhưng trước mắt, điều cần làm hiện nay là tập trung đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai các quy định của pháp luật về tài nguyên nước đã ban hành, trọng tâm là các quy định như: 

Hạn chế khai thác nước dưới đất; thu tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; lập và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước; giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên cơ sở áp dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến; xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và hạ lưu các hồ chứa, đập dâng.

Đồng thời, cần phải triển khai các giải pháp nâng cao ý thức người dân như: triển khai việc cải thiện, phục hồi các dòng sông bị ô nhiễm; tập trung đầu tư hệ thống quan trắc chất lượng nguồn nước, hệ thống giám sát các hoạt động xả nước thải vào nguồn nước để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước cho các dòng sông.

Mọi ý kiến phản ánh về các vấn đề bất cập tại địa phương, xin vui lòng gửi về địa chỉ thukymekong90@gmail.com. 

 

Bình luận

Đi lại

Đô thị

Giải trí

Kinh doanh