ĐANG TẢI DỮ LIỆU...

Cải thiện ô nhiễm nước thải làng nghề, không thể khoác chung một áo  

Kiều Tuyết - Hải Hà
Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề thường nằm xen kẽ giữa khu dân cư, nên việc xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải gặp nhiều khó khăn với chi phí tốn kém. Đã có nhiều giải pháp được triển khai thực hiện nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm nước thải làng nghề nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả.
Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề thường nằm xen kẽ giữa khu dân cư, nên việc xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải gặp nhiều khó khăn với chi phí tốn kém
Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề thường nằm xen kẽ giữa khu dân cư, nên việc xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải gặp nhiều khó khăn với chi phí tốn kém

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

Trong chương trình Sự việc và góc nhìn lần trước, chúng tôi đã đề cập thực trạng nước thải của rất nhiều làng nghề gần như chưa được xử lý, xả thải trực tiếp ra hệ thống kênh mương hoặc hòa cùng với nước thải sinh hoạt được xả thẳng ra hệ thống ao hồ, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. 

Trong khi đó, hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề thường nằm xen kẽ giữa khu dân cư, nên việc xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải gặp nhiều khó khăn với chi phí tốn kém. Đã có nhiều giải pháp được triển khai thực hiện nhằm hạn chế tình trạng ô nhiễm nước thải làng nghề nhưng vẫn chưa thực sự hiệu quả. Làm thế nào để cải thiện tình trạng này?

Làng Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội, từ là một làng chuyên thu gom lông gà lông vịt và sản xuất các phụ kiện may mặc nổi tiếng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đến nay, các hộ sản xuất đã chuyển đổi mô hình theo hướng bền vững.

Những công đoạn in, nhuộm thải hóa chất ra môi trường đã được người dân loại bỏ, chuyển sang đi thuê nhuộm tại các doanh nghiệp lớn có công nghệ hiện đại, số lượng cơ sở thu gom lông gà lông vịt cũng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. 

Cùng với ngân sách Nhà nước, chính quyền thôn Triều Khúc đã huy động nguồn vốn xã hội hóa xây dựng được hệ thống cống thu gom và thoát nước đạt tiêu chuẩn về nông thôn mới, nên tình hình môi trường đã được cải thiện đáng kể. Chia sẻ về thành công này, ông Nguyễn Huy Thắng- Trưởng thôn Triều Khúc, xã Tân Triều huyện Thanh Trì cho biết:

"Tự người dân, tự chính quyền phải vào cuộc yêu cầu bắt buộc đảm bảo sức khỏe môi trường sức khỏe toàn dân. Nếu làm điều gì ảnh hưởng đến môi trường là tôi xử lý hết. Bây giờ đa số thuê tại các công ty lớn nhuộm về công nghiệp vừa rẻ, trên địa bàn làng này không còn nhà nào nhuộm, nhuộm là sản xuất độc hại nhất".

Trong khi đó, tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, các biện pháp quản lý chặt chẽ các hộ sản xuất được thực hiện nghiêm túc kết hợp với công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân làng nghề về sản xuất bền vững được đẩy mạnh.

Nhờ vậy, đến nay nhiều hộ sản xuất đã đồng ý di dời ra cụm công nghiệp làng nghề  được xây dựng ngay gần đó. Ông Phạm Khắc Hà- Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc, Hà Đông cho biết:

"Trước đây có hơn 10 nhà nhuộm nhưng từng khi quản lý môi trường chặt chẽ, bây giờ chỉ còn 2 nhà thôi. Bây giờ người ta đang chờ khu đất công nghiệp làng nghề, khu xử lý nước thải dành riêng cho những gia đình làm công đoạn xả thải".

Thành lập các cụm làng nghề quy mô vừa và nhỏ để di dời các làng nghề ra ngoài khu dân cư là một trong những biện pháp lâu dài. Nhiều địa phương trên cả nước, trong đó có Hà Nội đã thành lập các cụm công nghiệp làng nghề và vận động các hộ sản xuất chuyển về các cụm công nghiệp làng nghề có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật, xử lý nước thải.

Hiện nay, Hà Nội đã thành lập thêm 44 cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn các huyện Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Phú Xuyên, Chương Mỹ, Thanh Trì và quận Hà Đông với tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng gần 9.000 tỷ đồng. 

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc di dời các hộ sản xuất ra ngoài khu dân cư cũng gặp một số khó khăn do người dân vẫn có thói quen tham gia sản xuất cùng với các thành viên trong gia đình. Mặt khác, một số loại hình làng nghề có các công đoạn sản xuất gắn liền với nhau nên việc phân tách các công đoạn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. 

Để giải quyết tình trạng này, song song với giải pháp đưa người dân về các khu sản xuất tập trung, Sở Tài Nguyên môi trường Hà Nội đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tại một số làng nghề. Ông Phạm Hải Dương- chuyên viên phòng Kế hoạch tổng hợp – Chi cục bảo vệ môi trường cho biết:

"Bên cạnh việc đầu tư một số cụm công nghiệp làng nghề có hệ thống xử lý nước thải, đối với những làng nghề truyền thống mang yếu tố lịch sử, TP cũng đã triển khai một số dự án xử lý nước thải làng nghề  trên địa bàn để có thể thu gom nước thải triệt để và thu gom rác thải công nghiệp theo quy định".

Thời gian qua, thành phố Hà Nội cũng đã kêu gọi đầu tư gần 600 tỷ đồng để thực hiện 8 dự án xử lý nước thải, rác thải tại các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai, Hoài Đức, Mê Linh … và đầu tư nhiều nhà máy xử lý nước thải như nhà máy xử lý nước thải Cầu Ngà,  nhà máy ở xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức ..

GS TS Đăng Kim Chi cho rằng, hệ thống làng nghề của Việt Nam rất đa dạng từ làng nghề sản xuất lương thực thực phẩm, làng nghề tái chế, đến các làng nghề giết mổ gia cầm…

Bởi vậy, chất thải và nguồn nước xả thải của mỗi một làng nghề có đặc thù riêng nên tùy theo từng loại hình làng nghề và điều kiện kinh tế địa phương áp dụng những giải pháp xử lý khác nhau, không thể “khoác chung một áo”.

Có những làng nghề có thể thu gom nước thải, tập trung xử lý cho từng nhóm cơ sở sản xuất nhưng có những làng nghề buộc phải di dời ra những khu vực tập trung. GS Đăng Kim Chi nhấn mạnh: 

"Tùy theo điều kiện kinh tế của từng địa phương và sự tự giác của từng hộ sản xuất mà chúng ta phải lựa chọn các biện pháp xử lý. Công nghệ xử lý làng nghề không thể đưa ra những công nghệ xử lý quá hiện đại, quá đắt tiền hoặc khó vận hành mà nó phải phù hợp với trình độ của người dân và đơn giản hơn nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả về chất lượng xử lý".

Bà Chi cũng cho rằng, nước thải của các làng nghề có nhiều hóa chất độc hại nên cần phải thu gom nước thải tập trung và có những biện pháp xử lý giống như 54nước thải công nghiệp, nước xả thải ra môi trường phải đạt những tiêu chuẩn, quy chuẩn nhất định. 

Một số chuyên gia môi trường cho rằng, các cơ quan quản lý môi trường địa phương nơi có làng nghề cần phải sớm xây dựng những quy chuẩn đặc thù về nước xả thải cho từng làng nghề và có những biện pháp giám sát, quản lý chặt chẽ. Song song với đó, cũng có những biện pháp tuyên truyền phù hợp để nâng cao nhận thức của người dân về phương thức sản xuất bền vững, thân thiện với môi trường.

Hầu hết các chất thải, phế phụ phẩm nông nghiệp đang bị bỏ đi một cách lãng phí và là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất cho các khu vực xung quanh (Ảnh: dangcongsan.vn)
Hầu hết các chất thải, phế phụ phẩm nông nghiệp đang bị bỏ đi một cách lãng phí và là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất cho các khu vực xung quanh (Ảnh: dangcongsan.vn)

Trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn tài nguyên nước đang thiếu hụt và ô nhiễm như hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tận dụng và tái chế các chất thải, nước thải để tái sử dụng.

Dưới góc nhìn của VOVGT, đây là một hướng đi rất nên nghiên cứu áp dụng cho các làng nghề của Việt Nam, để vừa giải quyết được vấn đề ô nhiễm, vừa tận dụng tốt được tài nguyên nước đang ngày càng trở nên vô cùng quý giá hơn bao giờ hết.

Biến ô nhiễm thành tài nguyên

Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm và thiếu hụt nguồn nước sạch nghiêm trọng. Trong khi nguồn nước ngầm bị khai thác thiếu kiểm soát thì nguồn nước mặt đang bị đe dọa bởi tình trạng ô nhiễm từ nguồn nước xả thải không qua xử lý, trong đó có nước thải từ các làng nghề. 

Miến làng So, xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội vốn được biết đến như một đặc sản vùng quê xứ Đoài được làm từ 100% bột củ dong riềng nguyên chất. Trung bình mỗi ngày, một hộ sản xuất có thể làm ra từ 1-1,5 tấn miến mỗi ngày, đồng nghĩa với việc có một lượng lớn nước xả thải và bã dong riềng được thải ra môi trường. 

Bằng việc sử dụng giải pháp công nghệ sinh học, đặc biệt là dùng vi sinh vật để xử lý nước thải, các nhà khoa học công tác tại Viện Công nghệ sinh học- Công nghệ thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội có thể làm sạch và tái sử dụng nước thải này cho hoạt động nông nghiệp. Không những thế, bã dong sau khi dùng để trồng nấm kết hợp với với bùn thải để sản xuất ra phân hữu cơ phục vụ cho việc trồng cây nông nghiệp, tạo nên một chuỗi sản xuất khép kín.

Còn tại huyện Mỹ Đức, Hà Nội, những năm gần đây đã áp dụng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ trong trồng khoai tây bằng phương pháp làm đất tối thiểu, giúp làm tăng năng suất trồng khoai tây lên 1,5 lần và đặc biệt giảm số lần bón phân, và không dùng thuốc bảo vệ thực vật.

Nước ta có hàng trăm làng nghề sản xuất nông sản và thực phẩm, nhưng hầu hết các chất thải, phế phụ phẩm nông nghiệp đang bị bỏ đi một cách lãng phí và là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất cho các khu vực xung quanh.

Áp dụng giải pháp công nghệ sinh học vào xử lý nước thải của những loại hình làng nghề này, không chỉ tiết kiệm được nguồn tài nguyên và biến chất thải thành phân bón hữu cơ phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của một quốc gia thuần nông mà còn hạn chế phát thải ra môi trường.

Coi chất thải là nguồn tài nguyên. Biến thách thức thành cơ hội, điều đó sẽ chỉ thực hiện được nếu có sự đồng lòng của các nhà khoa học, chính quyền địa phương và người dân, khi tất cả cùng nhau chung tay thực hiện áp dụng những công nghệ mới. Ở đó, các nhà khoa học là người nghiên cứu và hoàn thiện những giải pháp công nghệ, chính quyền địa phương tạo điều kiện, cơ chế phù hợp và người dân phải nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất bền vững trong bối cảnh hiện nay.

Tuy nhiên, mô hình áp dụng công nghệ sinh học vào xử lý nước thải và phế phẩm dong riềng hiện mới được triển khai thí điểm tại một số hộ sản xuất, chưa được áp dụng đại trà. Nguyên do là người dân chưa nhận thấy nguồn lợi từ các bã thải nông nghiệp. Trong khi đó, chính quyền địa phương chưa có được sự hỗ trợ về địa điểm để trồng nấm và chưa nắm được những lợi ích của quy trình sản xuất khép kín.

Áp dụng những công nghệ mới vào quá trình xử lý nước thải, chất thải làng nghề có thể là cơ hội giúp các làng nghề sản xuất nông sản thực phẩm giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường.

Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được, khi các nhà khoa học sẵn sàng chuyển giao công nghệ mới cho các làng nghề. Các hộ sản xuất, người dân sẵn sàng đón nhận và áp dụng những giải pháp công nghệ mới vào trong sản xuất, và thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường sống an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng dân cư.

Đặc biệt, các cấp lãnh đạo địa phương cần có sự dịch chuyển về tư duy, nhìn nhận thực trạng và những thách thức của tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, những thuận lợi và khó khăn địa phương đang đối mặt để có những chính sách, cơ chế mở để khuyến khích các hộ sản xuất có công nghệ thân thiện với môi trường, đảm bảo mục tiêu phát triển làng nghề bền vững trong tương lai.
 

Bình luận

Đi lại

Đô thị

Giải trí

Kinh doanh

Diễn đàn