Vai trò của minibus trong mạng lưới GTCC tại Hà Nội và Tp.HCM

Tác giả: Kênh VOV Giao thông 28/01/2019 09:50:42

VOVGT - Liên quan đến chủ đề "Minibus với đô thị Việt Nam", Kênh VOVGT đăng tải ý kiến của TS. Phạm Hoài Chung và ThS. Nguyễn Trung Anh về vấn đề này.


Tuyến buýt đường sông tại Tp.HCM. Ảnh: Báo Giao thông

>>> Minibus - Bây giờ triển khai là quá chậm, nhưng vẫn hơn không

>>> Kế hoạch tổ chức các tuyến minibus tại Hà Nội

Giao thông công cộng tại các đô thị của nước ta hiện nay hầu như mới chỉ có VTHKCC bằng xe buýt truyền thống (ngoại trừ thành phố Hồ Chí Minh có thêm buýt đường sông đi vào hoạt động từ tháng 11/2017, Hà Nội có 1 tuyến xe buýt nhanh BRT đi vào hoạt động năm 2016).

Hệ thống đường giao thông trong khu vực vành đai 1 thủ đô Hà Nội chủ yếu là đường phố hẹp, mặt cắt ngang dưới 7m chiếm trên 70%, tỷ lệ đường có khả năng lưu thông xe buýt khoảng 1.947km/3.974km toàn thành phố. Hiện có 1.546 xe buýt các loại đang vận hành khai thác trong đó xe buýt loại vừa và lớn là 1.485 xe (chiếm 96%), loại nhỏ (24 chỗ) là 61 xe (chiếm 4%).

Tại Tp. Hồ Chí Minh, hiện có 144 tuyến xe buýt với 2.603 phương tiện tham gia hoạt động trong đó xe buýt loại nhỏ chiếm tỷ lệ khoảng 10%.Trong tương lai, sự hoàn thiện dần của các tuyến đường sắt đô thị sẽ giảm bớt sức ép lên mạng lưới xe buýt và kỳ vọng giải tỏa ùn tắc giao thông trên diện rộng cho thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, sự hiện diện của những xe buýt cỡ lớn trong các tuyến phố nhỏ, chật hẹp là không phù hợp, gây nên sự ùn tắc giao thông do đó việc phát triển minibus (xe buýt nhỏ có sức chứa từ 16 chỗ trở xuống) nhằm kết nối tới những phương thức vận tải hành khách khối lượng lớn như xe buýt nhanh BRT hay metro trong tổng thể mạng lưới giao thông công cộng tại Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là vô cùng cần thiết.

Những thách thức cho việc phát triển hệ thống VTHKCC bằng xe buýt trong thời gian tới

Trải qua gần 35 năm của công cuộc đổi mới phát triển kinh tế xã hội, bộ mặt đô thị thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều thay đổi, đã có diện mạo một đô thị hiện đại, chất lượng cuộc sống đã được cải thiện đáng kể trong đó không thể không kể đến sự đóng góp lớn lao của ngành giao thông vận tải (GTVT).

Bên cạnh việc đầu tư mạnh mẽ cho phát triển kết cấu hạ tầng, cùng với đó là phát triển hệ thống vận tải gồm thay thế các xe lambro, xe khách, xe buýt cũ những năm thập niên 90 với sản lượng rất thấp 10.000-12.000 khách/ngày bằng các xe buýt hiện đại đạt tiêu chuẩn EURO 2, 3,4. Các luồng tuyến cũng đã được cơ cấu đa dạng, điều chỉnh tần suất và thời gian hoạt động linh hoạt phù hợp nhu cầu đi lại của từng nhóm đối tượng. Phạm vi hoạt động của xe buýt cũng rộng hơn, kết nối không chỉ bên trong các thành phố mà cả với các tỉnh kế cận.

>>> Minibus - Thế mạnh và những tác động đến giao thông đô thị

>>> Làm sao để doanh nghiệp có thể đầu tư vào minibus?

Với những cải cách toàn diện, trong những năm gần đây sản lượng VTHKCC bằng xe buýt đạt khoảng 1,2 triệu HK/ngày. Tuy nhiên để phát triển hệ thống VTHKCC trở thành lực lượng vận tải chủ lực, vẫn còn gặp nhiều khó khăn thách thức:

1. Tình trạng ùn tắc giao thông gia tăng: số điểm ùn tắc giao thông đô thị gia tăng về số lượng cũng như mức độ (chủ yếu trên 80% tập trung trong khu vực trung tâm thành phố), gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tần suất phục vụ và thời gian phục vụ trên các luồng tuyến xe buýt.

2. Sản lượng VTHKCC bằng xe buýt sụt giảm qua các năm gần đây (giai đoạn 2014-2017 sản lượng VTHKCC bằng xe buýt giảm bình quân tại thành phố Hồ Chí Minh là 7%/năm, tại Hà Nội là 5%/năm) cho thấy tính hấp dẫn của VTHKCC bằng xe buýt đã giảm dần. Cụ thể:

- Tại Hà Nội: giai đoạn 2000-2009 sản lượng tăng mạnh nhất từ 10,69 triệu HK/năm đến 2009 đã đạt 413,1 triệu HK/năm (gấp khoảng 38,6 lần). Giai đoạn 2010-2015 tăng từ 462 triệu HK/năm lên 468,9 triệu HK/năm và nhiều năm tăng lên giảm xuống trong giai đoạn trên cho thấy sản lượng giai đoạn này có nhiều bất ổn. Từ 2016 đến nay, sản lượng cũng vẫn tiếp tục có xu hướng giảm [1].

- Tại thành phố Hồ Chí Minh: Giai đoạn từ 2012 – 2017 sản lượng hành khách giảm đều qua các năm. Năm 2017, sản lượng VTHKCC bằng xe buýt đạt 306,6 triệu HK, giảm 25% so với năm 2012.

Điều này cho thấy những nỗ lực của chính quyền các thành phố trong việc giảm dần sự tham gia của phương tiện xe cá nhân, tăng cường vai trò của VTHKCC là chưa đạt hiệu quả.

3. Mạng lưới tuyến xe buýt hiện nay tại các thành phố cũng tồn tại nhiều bất cập, chức năng của các tuyến buýt hiện nay chưa được định hình rõ ràng như: tuyến xuyên tâm, tuyến hướng tâm, tuyến vòng tròn… Hệ số trùng tuyến của mạng lưới cao, khả năng tiếp cận trong bán kính tối ưu của người dân khu vực trung tâm với bán kính tiếp cận từ 1,3-1,5km là chưa thu hút nhu cầu sử dụng.

Sự gia tăng mật độ dân số tại các khu đô thị mới là một trong các lý do cần phải điều chỉnh mạng lưới, bố trí tăng cường các tuyến buýt gom khai thác trong khu vực các tuyến phố nhỏ hẹp tại khu vực trung tâm. Đồng thời, số km đường bố trí xe buýt chạy/km đường đủ điều kiện khai thác buýt chỉ đạt khoảng 48,9% bình quân chung toàn thành phố. Riêng đối với khu vực Trung tâm (nội thành) chỉ đạt khoảng 34% tức là còn rất nhiều không gian để phát triển các tuyến buýt gom khu vực trung tâm.

4. Sự hạn chế về quỹ đất trong nội thành dẫn tới việc cải thiện tính tiện nghi và an toàn cho các điểm dừng, đỗ xe buýt,… là rất khó khăn. Ở nhiều vị trí không bố trí được nhà chờ cho khách ở các điểm dừng, nhiều tuyến đường hẹp nên không bố trí đủ các vạch sơn phân làn, phân luồng cho các phương tiện khi xe buýt dừng đỗ, gây ùn tắc cho dòng giao thông và gây nguy hiểm cho người lên xuống xe buýt.

5. Về cơ cấu phương tiện: chủng loại phương tiện chủ yếu là phương tiện cỡ lớn (chiếm hơn 90%). Kích cỡ xe buýt cũng cần phải điều chỉnh cho hợp lý, đa dạng để tương đồng với mật độ và tình trạng đường đô thị hiện hữu theo xu hướng phát triển các tuyến buýt trục chính, tuyến vòng cung với xe buýt sức chứa lớn và điều chỉnh các xe buýt trung bình và buýt nhỏ tham gia kết nối trong khu vực trung tâm, phù hợp với điều kiện hạ tầng đường xá chất hẹp và giảm ùn tắc giao thông.

Theo số liệu thống kê thì trong số 4.149 xe buýt tại hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh số lượng xe cũ tuổi đời trên 10 năm là khá cao (chiếm 34%). Trong xu hướng nâng cao chất lượng vận tải hành khách công cộng, thì việc đầu tư phương tiện mới thay thế xe cũ, chuyển đổi loại nhiên liệu thân thiện môi trường và giảm thiểu phát thải khí nhà kính cũng tạo nên những áp lực cần thiết cho chính quyền thành phố và các bên liên quan. Cơ cấu phương tiện còn bất hợp lý, có hơn 90% là xe buýt sức chứa trung bình và sức chứa lớn, còn lại số xe buýt có sức chứa nhỏ chiếm thấp dưới 10% và là sức chứa trên 24 chỗ.

Do vậy, cần có những giải pháp đa dạng trong việc định hình và phát triển hệ thống xe buýt như việc bổ sung minibus hoạt động trong khu vực hạn chế về hạ tầng nhằm gom khách cho hệ thống GTCC khối lượng lớn, đảm bảo mạng lưới GTCC tiếp cận tốt tới mọi người dân khu vực đô thị.

Kinh nghiệm phát triển các loại xe buýt nhỏ (Minibus) của một số thành phố trên thế giới

Minibus là loại xe chở khách nhỏ có sức chứa từ 10 – 16 người. Tại một số nước trên thế giới, minibus được sử dụng như một phương tiện vận tải hành khách công cộng trong đô thị, minibus hoạt động như dịch vụ vận tải chia sẻ (share taxi) chứ không giống buýt truyền thống là có lộ trình tuyến và điểm dừng cố định.

Xe Matatu (minibus) ở Nairobi, Kenya. Ảnh: Alamy.com

Nairobi - Kenya: Xe mini bus (tại đây được gọi là Matatu) bắt đầu phát triển tại Kenya và một số nước Đông Phi khác từ năm 1950, Matatu thường sử dụng loại xe mini-vans có sức chứa khoảng 10 người và được trang trí bắt mắt.Matatu được xem là một nét văn hóa của Kenya.

Với ưu thế là giá vé rẻ và kích thước nhỏ gọn, Matatu nhanh chóng trở nên phổ biến, đến năm 2014 có khoảng 20.000 xe Matatu hoạt động tại Kenya. Tuy nhiên, hiện nay chính sách của chính phủ Kenya là thay thế và dần tiến tới thay thế những xe matatu cũ bằng xe buýt 25 chỗ trở lên.

Thành phố Hồ Chí Minh: Đã từng triển khai loại hình minibus (xe buýt 12 chỗ). Vào đầu những năm 2000, nhằm chuyển đổi xe lam ba bánh cũ không an toàn và gây ô nhiễm, TP Hồ Chí Minh đã cho phép cải tạo những xe tải nhỏ đời mới làm phương tiện chở khách. Loại hình xe buýt này hoạt động theo tuyến và có điểm dừng, đón trả khách tương tự như xe buýt truyền thống, với lợi thế là kích thước xe nhỏ, có thể đi vào những tuyến phố, ngõ nhỏ xe buýt 12 chỗ nhanh chóng phát triển, chỉ sau 1 năm số lượng xe buýt 12 chỗ của thành phố Hồ Chí Minh lên tới 900 xe.

Tuy nhiên, từ năm 2006, Nghị định số 110/2006/NĐ-CP Về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô trong đó quy định xe buýt phải có từ 17 ghế trở lên và có diện tích sàn xe dành cho khách đứng, loại xe buýt 12 chỗ dần bị loại bỏ.

Cape Town – Nam Phi: Minibus tại Cape Town là loại xe chở khách 16 chỗ, những xe này chạy theo lộ trình tuyến cố định và hành khách có thể lên, xuống xe tại bất cứ điểm nào trên hành trình. Hiện nay chính quyền thành phố đang nghiên cứu triển khai dự án “Mạng lưới giao thông công cộng hợp nhất” (Integrated Public Transport Network – IPTN) trong đó minibus đóng vai trò là phương tiện kết nối những phương thức vận tải hành khách khối lượng lớn như xe buýt nhanh BRT hay Metro, hành khách có thể tra cứu và đặt chỗ bằng ứng dụng công nghệ mới.

*) Đánh giá:

Vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn đang là xu hướng chung của những đô thị lớn. Với một khối lượng vận tải khổng lồ, loại hình đường sắt đô thị là giải pháp không thể thiếu nhưng bên cạnh đó, vẫn phải duy trì các loại hình vận tải công cộng khác trong đó có xe buýt nhằm mở rộng mạng lưới phục vụ cho cộng đồng. Kinh nghiệm tại các quốc gia trên thế giới cho thấy xu hướng chung là thay thế những xe buýt nhỏ bằng xe buýt có sức chứa lớn hơn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là minibus không phù hợp với hệ thống giao thông công cộng trong các thành phố lớn, kinh nghiệm tại Cape Town cho thấy, nếu được quản lý và điều hành tốt, minibus có thể hoạt động rất hiệu quả, hỗ trợ tốt cho hệ thống VTHKCC khối lượng lớn.

Trong bối cảnh giao thông tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, cần xem xét bổ sung trong mạng lưới VTHKCC những tuyến xe buýt cỡ nhỏ dưới 24 chỗ nhằm phù hợp với điều kiện hạ tầng chật hẹp ở vùng lõi của các thành phố, tăng cường kết nối các khu vực trung tâm với các tuyến buýt chính, từ đó nâng cao tính hấp dẫn của loại hình VTHKCC đối với cộng đồng.

Giải pháp thúc đẩy trong việc lựa chọn, đầu tư phát triển phương tiện minibus trên địa bàn Hà Nội và Tp.HCM

Như vậy, một số quốc gia trên thế giới cho phép sử dụng các phương tiện minibus có sức chở dưới 16 chỗ, ví dụ như tại Vương quốc Anh, hầu hết các giáo trình và tài liệu liên quan đều định nghĩa minibus được hiểu là xe buýt có số chỗ ngồi 10 hành khách nhưng không quá 15 người bao gồm cả lái xe [8].

Tại Nauy, khái niệm minibus là phương tiện chở trên 8 người nhưng không quá 16 người bao gồm cả lái xe. Tuy nhiên, tại Việt Nam, quy chuẩn Việt Nam về xe ô tô khách thành phố QCVN10/2015/BGTVT [9] chỉ quy định số chỗ từ 17 chỗ trở lên và không có quy định về minibus.

Định hướng các nội dung lưạ chọn loại minibus phù hợp cho Hà Nội liên quan các vấn đề dưới đây:

1. Xây dựng hành lang pháp lý cần thiết: Cần phải rà soát, bổ sung các quy định về mặt pháp lý cho hoạt động của phương tiện minibus như: quy chuẩn, tiêu chuẩn phương tiện, các quy định liên quan đến điều kiện hoạt động của minibus từ phía Bộ GTVT và các Bộ liên quan.

2. Lựa chọn cỡ, chủng loại: Sau khi đủ các điều kiện pháp lý, việc đề xuất loại hình xe buýt trên cơ sở khái niệm và thực tế sử dụng xe buýt của các thành phố trên thế giới cũng như rà soát lại các quy định của Việt Nam cho thấy đối với minibus lựa chọn loại buýt từ 8-16 chỗ bao gồm cả lái xe là phù hợp.

3. Lựa chọn luồng tuyến: Hành trình các luồng tuyến cần đảm bảo sự kết nối giữa các tuyến hiện có và bao phủ các khu vực nội đô mà hiện tại mật độ bao phủ của VTHKCC vẫn còn thấp.

4. Lựa chọn loại nhiên liệu, năng lượng hoạt động: Với sự phát triển của công nghệ như hiện nay và chủ trương của Thành phố tiến dần đến phát triển giao thông đô thị bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường thì cần lưạ chọn xe buýt theo hướng: xe buýt hybrid sử dụng cả diesel và điện; hoặc xe buýt điện; xe buýt CNG, LPG.

  Minibus ở Băng Cốc (trái) và Quảng Châu 

Minibus ở Anh (trái) và Hồng Công

Kết luận

Trong định hướng phát triển của các đô thị lớn, VTHKCC luôn là một giải pháp quan trọng nhằm giảm ùn tắc giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường khu vực nội đô. Song song với việc phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng các luồng tuyến VTHKCC khối lượng lớn, cần phải xem xét thêm nhiều giải pháp để nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng, mà một trong số đó là đưa vào khai khác các phương tiện xe buýt nhỏ (minibus) phù hợp với những khu vực hạ tầng giao thông chật hẹp trong khu vực trung tâm các thành phố và tăng mật độ bao phủ của các luồng tuyến giao thông công cộng.

Tuy nhiên, để thực thi được những giải pháp này, cần phải tháo gỡ đồng thời những rào cản về thể chế và xác định các bước đi cụ thể về quản lý, đầu tư phương tiện, hạ tầng, xác định hành trình và tần suất các luồng tuyến nhằm đảm bảo sự hài hòa trên các mặt kinh tế xã hội.

Tài liệu tham khảo

[1] Đề án “Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030”;

[2] Đề án “Nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển hệ thống VTHKCC bằng xe buýt Thủ đô giai đoạn 2016-2020 định hướng đến năm 2025”;

[3]Quyết định số 280/QĐ-TTg ngày 8/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2020;

[4] Quyết định 13/2015/QĐ-TTg ngày 05/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế chính sách khuyến khích phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt;

[5] Nghị quyết 03/2013/NQ-HĐND ngày 12/7/2013 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về ưu tiên phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn; khuyến khích đầu tư xây dựng, khai thác bến xe, bãi đỗ xe ô tô và các phương tiện cơ giới khác; áp dụng công nghệ cao trong quản lý, điều hành hệ thống giao thông vận tải;

[6] Chương trình số 06-Ctr/TU của Thành ủy về phát triển đồng bộ, hiện đại hóa từng bước kết cấu hạ tầng đô thị, tăng cường quản lý trật tự xây dựng, đất đai, môi trường, xây dựng đô thị văn minh và hiện đại;

[7] Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐND ngày 04/7/2017 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về việc thông qua Đề án “Tăng cường quản lý phương tiện giao thông đường bộ nhằm giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2020 tầm nhìn 2030”;

[8] Đạo luật giao thông Transport Act 1985, United Kingdom, 1985.

[9] Quy chuẩn Việt Nam QCVN10/2015/BGTVT: Quy chuẩn quốc gia về chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe ô tô khách thành phố

[10] Urban Bus Services in Developing Countries and Countries in Transition:A Framework for Regulatory andInstitutional Developments, University of Sydney

[11] The “Minibus” Contribution, Andreas Neumann and Johan W. Joubert

Tác giả: Kênh VOV Giao thông 28/01/2019 09:50:42
Bình luận

0 bình luận

    Chưa có bình luận

Gửi bình luận

Ảnh - Clip

VOVGT HÀ NỘI



VOVGT TP HỒ CHÍ MINH



MEKONG

Mạng xã hội

Thống kê lượt Like trang vovgiaothong.vn của các mạng xã hội trên thế giới.

Giao thông đô thị

Thể thao